HÓA LỎNG THAN TẠI TRUNG QUỐC


Theo số liệu thống kê, trữ lượng than của Trung Quốc vào khoảng 114,5 tỷ tấn, trữ lượng dầu là 2200 triệu tấn và trữ lượng khí tự nhiên khoảng 2,23 ngàn tỷ m3. Tuy nhiên, vào năm 1993, do nhu cầu phát triển kinh tế tăng mạnh, Trung Quốc đã bắt đầu phải nhập khẩu dầu mỏ. Năm 2005, Trung Quốc tiêu thụ 300 triệu tấn dầu và phải nhập khẩu 127 triệu tấn dầu thô. Trung Quốc hiện đã trở thành nước thứ hai về tiêu thụ dầu và là nước thứ ba về nhập khẩu dầu trên thế giới. Theo dự báo, đến năm 2020 Trung Quốc sẽ tiêu thụ vượt quá 450 triệu tấn dầu, trong đó lượng dầu nhập khẩu đạt khoảng 60% - 62%. Nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa tăng nhanh cùng với những đòi hỏi chặt chẽ trong phát thải ô nhiễm, bảo vệ môi trường là nguyên nhân chính thúc đẩy ngành công nghiệp hóa lỏng than tại trung Quốc phát triển mạnh mẽ.
Về nguyên tắc, than được chuyển hóa sang dạng nhiên liệu lỏng bằng hai phương pháp trực tiếp và gián tiếp. Trong phương pháp trực tiếp, than được hòa tan trong một dung môi dưới nhiệt độ và áp suất cao. Phương pháp này có hiệu suất cao nhưng các sản phẩm nhiên liệu lỏng sau đó cần phải tinh chế để đạt chất lượng cao theo yêu cầu. Trong phương pháp gián tiếp, than được khí hóa thành một dạng khí đốt tổng hợp (hỗn hợp khí hydro và oxit cacbon). Sau đó khí tổng hợp này được kết hợp với chất xúc tác và ngưng tụ (phương pháp Fischer - Tropsch) tạo ra các sản phẩm siêu sạch, chất lượng cao.     
 Ngay từ những năm 1950 của thế kỷ trước, Viện Nghiên cứu than Trung ương (CCRI) kết hợp với Viện Nghiên cứu Bắc Kinh về Hóa học Than (BRICC) đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm hóa lỏng than trên qui mô nhỏ qua hai phương pháp trực tiếp và gián tiếp. Tuy nhiên, một thời gian dài sau đó công việc này bị gián đoạn. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ trên thế giới trong những năm 70 đã thúc đẩy Trung Quốc tiếp tục trở lại nghiên cứu trong lĩnh vực này với hai dây chuyền trực tiếp (phương pháp NEDOL, năng suất 100kg/ngày) và gián tiếp (phương pháp IG, năng suất 120kg/ngày). Trong giai đoạn thử nghiệm này, các nhà khoa học đã chú trọng vào 4 mục tiêu chính là:
- Đánh giá chất lượng quy trình hóa lỏng than;
- Phát triển các chất xúc tác mới;
- Tiến hành nghiên cứu khả thi đối với các nhà máy thử nghiệm;
- Triển khai những công nghệ mới và hỗ trợ kỹ thuật.
Kết quả nghiên cứu đã tìm ra loại chất xúc tác tổng hợp có độ hoạt tính cao và chi phí thấp, đặc biệt là, đã lựa chọn được loại than của tỉnh Shenhua đạt tỷ lệ chuyển hóa trên 90% trọng lượng và hiệu suất hóa dầu đạt 57%. Một số loại than của các địa phương khác cũng đã được thử nghiệm và cho kết quả khả thi.
Trên cơ sở các kết quả đạt được trong giai đoạn thử nghiệm, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành xây dựng một nhà máy hóa lỏng than đầu tiên theo phương pháp trực tiếp trên quy mô lớn tại Khu Tự trị Nội Mông. Nhà máy được xây dựng vào ngày 25 tháng tám năm 2004 và được đưa vào sử dụng năm 2008 theo hai giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, nhà máy đạt công suất 1 triệu tấn sản phẩm dầu/năm. Sau khi ổn định,công suất sẽ đạt mức thiết kế là 5 triệu tấn sản phẩm dầu/năm. Các sản phẩm bao gồm khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), napta, diezel và phenol./.
Trần Thu Hà
Theo “Nghiên cứu và triển khai công nghệ
hóa lỏng than tại Trung Quốc”
5/2007



 

Số lượt đọc: 5594 - Cập nhật lần cuối: 04:23 | 28/02/2012
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ