CÔNG TY THAN NA DƯƠNG 55 NĂM XÂY DỰNG, SẢN XUẤT VÀ LIÊN TỤC PHÁT TRIỂN ( 1959 -2014)


                                       Tiếp phần II – III, thời kỳ đổi mới 
      

      II-   Vượt qua khó khăn, thách thức để sản xuất ổn định  (1991 - 1998)
Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn, phức tạp, có thể nói, là giai đoạn khó khăn nhất qua gần 40 năm sản xuất của mỏ. Ngay từ đầu năm 1990, dù chưa có quyết định chính thức, lãnh đạo Công  ty xi măng Bỉm Sơn đã thông báo cho lãnh đạo mỏ biết về chủ trương của mình trong những năm tới. Cụ thể, để nâng cao chất lượng xi măng, hạ giá thành sản phẩm, nâng công suất của nhà máy, đáp ứng quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, Công ty xi măng Bỉm Sơn sẽ lập tờ trình để trình Chính phủ cho phép Công ty cải tiến công nghệ (từ công nghệ ướt sang công nghệ khô). Do đó Công ty xi măng Bỉm Sơn sẽ giảm dần và đến khi cải tạo xong sẽ ngừng hoàn toàn việc tiêu thụ than Na Dương. Than Na Dương - nguồn nguyên liệu chính để đốt lò nung Clinker của xi măng Bỉm Sơn (những năm trước, mỏ còn cung cấp than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, nhưng đến cuối năm 1989, xi măng Hải Phòng chuyển đổi công nghệ do đó đã ngừng tiêu thụ than Na Dương), bạn hàng duy nhất của mỏ còn lại trong lúc này, tiếp tục thông báo chuẩn bị ngừng tiêu thụ...
Mỏ Na Dương chỉ có một sản phẩm duy nhất là than, doanh thu chủ yếu là bán than và bốc xúc đất đá; tuy mỏ có phát triển các ngành sản xuất phụ, nhưng các sản phẩm phụ gạch, vôi chủ yếu phục vụ cho xây dựng cơ bản của mỏ, chỉ đáp ứng được yêu cầu của một lượng nhỏ lao động. Nay nếu than không tiêu thụ được, tức mỏ phải đóng cửa, đó là điều không tránh khỏi. Việc thu hẹp và giải thể đối với mỏ không phải là chưa gặp, thời kỳ những năm 60 mỏ đã phải thu hẹp lần 1, rồi lần 2, do giặc Mỹ đánh phá cả mỏ, cả Nhà máy xi măng Hải Phòng - nơi tiêu thụ than, đại bộ phận cán bộ công nhân của mỏ phải chia tay nhau chuyển đi các mỏ khác, và đỉnh điểm, mỏ đã bị quyết định giải thể vào năm 1968.
Thời kỳ giải thể năm 1968, mỏ đã gặp rất nhiều khó khăn, nhưng chắc chắn không thể khó khăn bằng việc đóng cửa mỏ vào những năm này. Bởi thời điểm năm 1968, số lượng công nhân, cán bộ mỏ chưa nhiều, số lượng con em và những người ăn theo chưa tập trung và có số lượng lớn, công nhân, cán bộ là thế hệ đầu tiên của mỏ, chủ yếu là bộ đội, nên đã quen với việc chia tay và di chuyển, hơn nữa, lúc đó còn có chỗ để chuyển đến. Nay hoàn toàn khác: cán bộ công nhân viên chức trên 2.000 người và hơn 4.000 khẩu ăn theo, có gia đình công nhân đã là thế hệ thứ 3 sống và làm việc tại mỏ. Do đó, đóng cửa mỏ không thể không ảnh hưởng lớn đến đời sống, chính trị, xã hội của cả một vùng công nghiệp ngay sát biên giới, tồn tại và phát triển đã 40 năm. Ngay lúc chưa có quyết định chính thức đóng cửa mỏ, tâm tư, tình cảm của người lao động nơi đây đã đầy xáo trộn, hoang mang, dao động ...
Không ai hiểu những khó khăn, gian khổ của mỏ bằng chính những người trong cuộc - những công nhân, cán bộ của mỏ. Song, trong gian khổ, con người càng có ý chí vươn lên mạnh mẽ. Tập thể công nhân, cán bộ mỏ vẫn đoàn kết trên dưới một lòng, tìm cách tháo gỡ, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, của Tổng công ty than Việt Nam, Công ty than Nội địa...
Năm 1991, Công ty xi măng Bỉm sơn chính thức gửi tờ trình trình Chính phủ cho phép Công ty chuyển đổi công nghệ và đã được Chính phủ đồng ý. Năm 1998,  Xi măng Bỉm Sơn bắt đầu tiến hành các bước thực hiện kế hoạch cải tiến công nghệ. Từ đây mỏ Na Dương bước vào thời kỳ thử thách mới.
Ngày 18-10-1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ khóa XVI khai mạc, có 120 đảng viên ưu tú về dự. BCH được bầu gồm 11 đồng chí và 1 đồng chí dự khuyết, đồng chí Lương Thanh Thuận tái cử giữ chức Bí thư, đồng chí Triệu Tùng, Phó bí thư - Giám đốc mỏ. Tháng 4-1992, đồng chí Triệu Tùng có quyết định chuyển đi giữ chức vụ Phó giám đốc Công ty than III, đồng chí Nguyễn Văn Vọng lên thay. Tại đại hội giữa nhiệm kỳ (tháng 5-1994), Đại hội bầu bổ sung thêm 5 đồng chí vào BCH.
Ngày 26-6-1993, Bộ Năng lượng có quyết định số 383 NL/TCCB-LĐ thành lập lại mỏ than Na Dương trực thuộc Công ty than Nội Địa.
Trong khi Công ty xi măng Bỉm Sơn tiến hành cải tiến công nghệ, mỏ than Na Dương được đưa vào tình trạng quản lý đặc biệt, tình trạng này được kéo dài đến cuối năm 1997.
Để giải quyết những khó khăn đã, đang và sẽ xảy ra, được sự giúp đỡ của Tổng công ty than Việt Nam và Công ty than Nội Địa, lãnh đạo mỏ một mặt tập trung tìm các thị trường tiêu thụ ngoài các hộ tiêu thụ là xi măng, trong và ngoài nước; qua một số nước châu Âu giới thiệu sản phẩm và chào hàng, sang nước bạn láng giềng gần gũi Trung Quốc để giới thiệu sản phẩm nhằm tìm ra thị trường tiêu thụ than những năm trước mắt nếu Nhà máy xi măng Bỉm Sơn ngừng tiêu thụ mà các dự án khác chưa kịp vào, với tinh thần tất cả vì việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động. Từ những lần đi đó, một số đối tác nước ngoài đã đến làm việc, lấy mẫu than Na Dương để làm xét nghiệm. Song do than Na Dương là loại than đặc chủng, chất bốc thấp, hàm lượng lưu huỳnh cao, nên tiêu thụ ra nước ngoài rất khó khăn.
Trong điều kiện cực kỳ khó khăn đó, nếu mỏ Na Dương phải đóng cửa thì trước hết là hàng ngàn lao động không có việc làm, không có thu nhập, đời sống của công nhân và gia đình họ sẽ lâm vào cảnh khó khăn, một khu công nghiệp, một mỏ than ngay sát biên giới với gần 40 năm tồn tại bị đóng cửa, tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội, cả về kinh tế và quốc phòng vốn đã phức tạp chắc chắn sẽ phức tạp hơn, hàng chục triệu tấn than nâu (than ngọn lửa dài Na Dương) bị lãng phí. Trước những khó khăn đó công nhân cán bộ mỏ Na Dương đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức quý báu, thiết thực và hiệu quả của Tổng Giám đốc Tổng Công ty than Việt Nam Đoàn Văn Kiển, Công ty than Nội Địa, chuyển hướng sang tìm kiếm các đối tác tiêu thụ là Nhiệt điện (các nhà máy nhiệt điện). Phương án này đã nhận được sự ủng hộ của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Lạng sơn, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Lộc Bình. Tuy nhiên, bước đầu còn gặp khó khăn song với sự kiên trì, quyết tâm của Tổng Giám đốc Đoàn Văn Kiển dự án xây dựng nhà máy Nhiệt điện Na Dương đã được Chính phủ phê duyệt. Đây là một bước đi hết sức quan trọng, mở ra một hướng đi mới, một sự phát triển mới khu công nghiệp Than- Điện Na Dương, hàng chục triệu tấn than Na Dương sẽ biến thành điện năng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và đến nay thực tế đã chứng minh.
Để đối phó và từng bước giải quyết những khó khăn, có sự chỉ đạo của Công ty than Nội Địa, từ năm 1993 mỏ khuyến khích cán bộ công nhân tiếp tục đi tìm việc làm theo các địa chỉ giới thiệu của mỏ như đến các xí nghiệp than Núi Hồng, Suối Bàng, Thanh An, Nông Sơn, đến Nhà máy xi măng La Hiên... hoặc chuyển công tác tới các đơn vị khác trong và ngoài Ngành Than; khuyến khích công nhân nghỉ hưu trước tuổi, khuyến khích nghỉ theo chế độ 176 (vẫn quen gọi là chế độ "thanh toán 1 lần", hay trong dân gian còn gọi là "(về) nghỉ một cục"), bằng cách đề nghị Công ty than Nội địa cấp bù cho số người nghỉ theo chế độ này mà số tiền trợ cấp thấp hơn 5 triệu đồng.
Từ năm 1993 – 1997, mỏ đã giải quyết chuyển công tác, nghỉ chế độ 176, nghỉ hưu gần 1000 công nhân, năm có số người nghỉ đông nhất là năm 1994, với hơn 400 người. Việc này rõ ràng gây ra sự xáo trộn rất lớn trong việc tổ chức quản lý và chỉ đạo sản xuất của mỏ, đồng thời nếu không giải quyết tốt các mặt chính sách, đời sống, tư tưởng chắc chắn sẽ xảy ra các vấn đề tiêu cực ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Với các công trường, phân xưởng, năm 1991, mỏ thành lập Công trường thanh niên; thanh lý hợp đồng với hộ bốc đất cuối cùng còn lại (bên B) thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Năm 1992, thành lập các Công trường đất, Công trường than; giải thể đội gốm sứ, đá xẻ, gạch lát nền; sáp nhập các công trường Cơ khí cầu đường và Xây dựng cơ bản thành Công trường xây dựng cơ bản và sửa chữa đường; sáp nhập 2 công trường Vật liệu 1 và Vật liệu 2 thành Công trường sản xuất vật liệu xây dựng; sáp nhập 2 phòng Tổ chức cán bộ và Lao động tiền lương thành Phòng Tổ chức lao động-tiền lương; giải thể phòng Điều độ-Sản xuất, chuyển nhiệm vụ chấm chuyến về phòng KCS quản lý, nhiệm vụ điều độ về phòng kế hoạch quản lý; giải thể Ban kiến thiết cải tạo mở rộng; giải thể Ngành đời sống; thành lập các phòng Xây dựng cơ bản và Trắc địa-địa chất (trên cơ sở tách bộ phận trắc địa-địa chất trước đây thuộc phòng kỹ thuật quản lý); xoá bỏ cơ chế quản lý kho 2 cấp; hợp đồng với Trung đoàn đặc nhiệm cơ động cử 1 tổ gồm 20 cán bộ chiến sĩ về làm công tác bảo vệ (từ năm 1992 – 1996).
Năm 1993, giải thể Công trường thanh niên (chuyển toàn bộ thiết bị bốc, xúc, khoan, gạt về Công trường đất); sáp nhập các phòng An toàn, Trắc địa, Địa chất, Kỹ thuật thành Phòng Kỹ thuật. Công ty than Nội Địa chỉ đạo chuyển Công trường vật liệu xây dựng sang Xí nghiệp xây lắp để thành lập Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Lạng Sơn. 
Năm 1994, giải thể 2 công trường đất và công trường than để thành lập Công trường khai thác. Công ty than Nội Địa lại giải thể Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Lạng Sơn và chuyển toàn bộ cơ sở vật chất, cán bộ công nhân viên chức trở lại mỏ. Năm này, thành lập các phòng Kiểm toán, Thị trường, Thanh tra kỹ thuật an toàn (trên cơ sở tách công tác an toàn từ phòng Kỹ thuật). Cũng từ năm này mỏ có chức danh Chánh thanh tra kỹ thuật an toàn. Chức danh này tồn tại được 7 năm, từ năm 1994 – 2001.
Năm 1995, sáp nhập Công trường xây dựng cơ bản và sửa chữa đường với Công trường sàng tuyển thành Công trường tuyển than; sáp nhập Công trường khai thác và Phân xưởng vận tải thành Công trường cơ khí-khai thác; sáp nhập phòng Xây dựng cơ bản vào phòng Kế hoạch. Năm này mỏ cử 1 tổ gồm 20 cán bộ công nhân và 5 xe ô tô, 1 máy khoan xuống Công ty than Dương Huy vận chuyển đất đá (đến hết năm 1997 tổ này rút quân và chuyển thiết bị về mỏ).
Năm 1996, giải thể trường Công nhân kỹ thuật mỏ Na Dương. Mỏ cử 1 tổ gồm 25 người và thiết bị vào mỏ Nông Sơn (Đà Nẵng) vận chuyển đất đá (đến năm 1997 tổ này rút quân về mỏ, thiết bị được Công ty điều để lại mỏ Nông Sơn). Cũng năm này, mỏ điều 1 máy xúc EKG 4,6m3 ra phục vụ nhiệm vụ tiêu thụ than (xúc than lên tàu). Năm này, trạm điện 35/6kV số 2 được xây dựng, sau 2 năm khánh thành, và đến năm 1998 đưa vào sử dụng trạm điện 35/6kV số 2, cũng là lúc trạm 35/6kV số 1 ngừng vận hành.
Năm 1997, tách phòng Tổ chức lao động - Tiền lương thành 2 phòng Tổ chức cán bộ và Lao động tiền lương. Năm này mỏ ngừng hợp đồng với tổ cơ động của trung đoàn đặc nhiệm.
Năm 1998, giải thể 2 phòng Kiểm toán và Thị trường.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn mà công tác điều hành sản xuất của mỏ gặp không ít khó khăn. Hầu hết thiết bị bốc xúc vận chuyển như khoan, gạt trong dây chuyền sản xuất chính đã xuống cấp loại B và C, do thời gian sử dụng đã lâu ngày. Có máy móc được trang bị từ thập niên 60-70 đã qua nhiều lần bảo dưỡng sửa chữa, trung đại tu và sửa chữa lớn, vật tư phụ tùng sửa chữa thay thế khan hiếm. Vì vậy thiết bị đã xuống cấp lại càng xuống cấp nhanh hơn, dẫn tới thời gian sử dụng thấp, năng suất thiết bị không đạt, thời gian xe nằm trong xưởng chờ sửa chữa lâu, chất lượng sửa chữa không đảm bảo do phụ tùng vật tư không đồng bộ.
Nhiều năm liên tục (từ 1991-1998) mỏ không được tăng cường thêm các thiết bị khoan, gạt, bốc xúc và vận chuyển (do mỏ được đưa vào tình trạng quản lý đặc biệt). Sản xuất manh mún, công việc khai thác ngày càng xuống sâu hơn (do mỏ giảm bóc đất đá từ hơn 1 triệu m3 năm 1991 xuống chưa còn đầy một nửa, năm 1998 mỏ tập trung cho khai thác than phục vụ tiêu thụ. Vì vậy quy trình khai thác mỏ không thực hiện đúng, tầng bè bị chập). Trong khi đó diễn biến tư tưởng của công nhân, cán bộ ngày thêm phức tạp do thuyên chuyển, điều động, thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định; trông chờ, ỷ lại, không yên tâm sản xuất; nạn trộm cắp xảy ra nghiêm trọng, nhân dân lấy than về sấy thuốc lá xảy ra liên tục, có ngày lên tới hàng trăm người...
    Đứng trước tình khó khăn phức tạp đó, Đảng uỷ, Giám đốc, Công đoàn mỏ đã họp đề ra các giải pháp hữu hiệu, những quyết sách mang tính chiến lược nhằm trong một thời gian ngắn nhất lập lại trật tự, kỷ cương. Đảng uỷ, Công đoàn, Đoàn thanh niên và các đoàn thể quần chúng vào cuộc. Một mặt tổ chức  xắp xếp lại sản xuất, từ phòng ban đến công trường, phân xưởng cho phù hợp với điều kiện thực tế, nhiệm vụ sản xuất. Mặt khác động viên giáo dục, khích lệ, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và lương tâm của người thợ mỏ, của mỗi cán bộ đảng viên. Rà soát, sửa đổi bổ sung các quy chế, định mức cho phù hợp. Tăng cường các mặt quản lý đặc biệt là quản lý kỹ thuật cơ điện và kỹ thuật khai thác. Kiên quyết loại ra khỏi dây chuyền sản xuất những cán bộ, công nhân thiếu ý thức trách nhiệm. Xử lý nghiêm những cán bộ, công nhân vi phạm kỷ luật. Thực hiện tốt các chế độ khoán quản, khoán chi phí, các yếu tố sản xuất tới từng đầu xe, tổ máy. Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán phân xưởng, đồng thời đề nghị Công ty nới lỏng việc quản lý đặc biệt đối với mỏ. Thực hiện quản lý và cấp phát lương cho người lao động qua sổ lương đúng và đủ.
Mỏ yêu cầu điều chỉnh giá bán than, qua nhiều lần đàm đạo, thương thuyết, đến năm 1992 giá bán than của mỏ đã được điều chỉnh phù hợp hơn, sản xuất kinh doanh của mỏ đã có lãi, do đó đời sống công nhân lao động bắt đầu có sự gia tăng.
Trong thời gian chưa tới 1 năm, từ cuối năm 1992 đến đầu năm 1993 tình hình khó khăn đã dần dần được giải quyết, các mặt tổ chức sản xuất và quản lý đã đi vào nền nếp. Mỏ phát động phong trào thi đua lao động sản xuất lập thành tích chào mừng 35 năm ngày thành lập (21/3/1959 – 21/3/1994). Kết thúc năm kế hoạch 1994, mỏ đã hoàn thành xuất sắc toàn diện mọi chỉ tiêu nhiệm vụ, về trước đích kế hoạch 1 tháng. Đây là năm có sản lượng khai thác và tiêu thụ cao nhất trong 35 năm thành lập với sản lượng tiêu thụ 143.508 tấn than loại I, tăng doanh thu hơn 4 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước, cấp trên và địa phương đầy đủ, thu nhập của công nhân tăng lên, tạo ra không khí vui tươi, phấn khởi, tin tưởng trong công nhân lao động. Năm 1994, mỏ tròn 35 năm thành lập, lãnh đạo mỏ đã chỉ đạo tổ chức thật long trọng trong ngày thành lập 21-3. Được sự đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng sơn, Tổng công ty than Việt Nam, Công ty than Nội địa, đêm 20-3 mỏ tổ chức bắn 35 phát pháo hoa (bên bờ hồ thanh niên). Ngày 21-3 tại Nhà văn hoá trung tâm, mỏ long trọng kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập.
    Bắt đầu từ những năm vận chuyển than Na Dương bằng phương tiện tầu hoả, số lượng than tiêu thụ ngày càng nhiều, than lưu kho tại Bỉm Sơn tăng cao. Do độ tro và lưu huỳnh cao, thời gian vận chuyển kéo dài nên đã gây ra cháy than tại bãi than của Nhà máy xi măng Bỉm Sơn. Năm 1992-1993, xi măng Bỉm Sơn đã nhiều lần kiến nghị mỏ về việc than cháy. Để làm rõ trách nhiệm của các bên về việc cháy than, năm 1993, hội nghị các bên được tổ chức tại Tổng công ty xi măng Việt Nam (Hà Nội), gồm các đại diện Tổng công ty xi măng, Xi măng Bỉm Sơn, Đường sắt Hà Lạng, Công ty than Nội Địa và Mỏ than Na Dương. Sau một ngày làm việc, trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, hội nghị đã đi đến kết luận phân rõ trách nhiệm cho các bên. Cụ thể: 1. Nhà máy xi măng Bỉm Sơn cử cán bộ phòng KCS ra cùng lấy mẫu với phòng KCS mỏ than Na Dương. Mẫu này được chia làm 2 phần, mỗi bên một nửa để phân tích và đối chiếu kết quả các thông số độ tro, độ ẩm, chất bốc. Nếu mẫu nào độ tro hơn 37% thì nhà máy xi măng không nhận mẫu đó và mỏ than Na Dương phải chọn lọc lại đến khi độ tro dưới 37% thì nhà máy mới nhận. 2. Thời gian vận chuyển than bằng tàu hỏa từ than Na Dương tới xi măng Bỉm Sơn không được quá 7 ngày đêm. Nếu quá thời gian đó mà than cháy thì bên đường sắt phải chịu phạt. Số than cháy mỏ than Na Dương không phải chịu trách nhiệm. 3. Mỏ than Na Dương sản xuất than nếu độ tro đạt dưới 37% thì Nhà máy xi măng Bỉm Sơn thưởng cho mỏ mỗi một tấn than là 1000 đồng, và sẽ bị phạt ngược lại nếu độ tro vượt quá 37%. Số tiền thưởng giảm độ tro, Nhà máy xi măng Bỉm Sơn được hạch toán vào giá thành, còn mỏ Na Dương thưởng lại cho công nhân, cán bộ theo quy chế của mỏ, sau khi được phê duyệt của giám đốc Công ty than Nội Địa. Mỏ Na Dương đã thực hiện đúng như vậy cho tới năm 1997.
Cùng với việc sắp xếp lại sản xuất của các phòng ban, công trường, phân xưởng, mỏ phát động phong trào thi đua lao động sản xuất với nội dung năng suất, chất lượng, hiệu quả; giữ gìn xe tốt, lái xe an toàn; các đợt thi đua ngắn ngày chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, của ngành… Từ phong trào đó đã xuất hiện nhiều tấm gương người tốt việc tốt tiêu biểu, nhiều đầu xe tổ máy đạt năng suất kỷ lục. Đặc biệt phong trào “yêu xe như con, quý xăng như máu” đã giành thắng lợi lớn, nhiều đầu xe, tổ máy loại C vẫn có thời gian hoạt động và năng suất cao, chấm dứt được hiện tượng mất mát và hao hụt dầu. Xây dựng quy chế khen thưởng đối với sáng kiến và tiết kiệm, phong trào ích nước lợi nhà, đã thu được thắng lợi đáng kể. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, làm lợi cho mỏ hàng trăm triệu đồng, tiết kiệm thời gian và chi phí, người lao động tăng được thu nhập. Trong phong trào đó, nổi lên Phân xưởng cơ điện là đơn vị đi đầu trong phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật và tiết kiệm. Do điều kiện khó khăn về vật tư, phụ tùng thay thế đã thiếu lại không đồng bộ, chất lượng không đảm bảo, công tác sửa chữa của xưởng đã phát huy sáng kiến cải tiến, phấn đấu rút ngắn thời gian xe máy nằm tại xưởng, giải phóng nhanh đưa xe máy ra sản xuất. Hàng năm riêng Phân xưởng cơ điện đã có hàng chục sáng kiến cải tiến có giá trị, có đồng chí năm nào cũng có sáng kiến (có năm có tới 4 sáng kiến). Phân xưởng vận tải có tổ sửa chữa ô tô cũng có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, góp phần vào nhiệm vụ sửa chữa đột xuất, giải phóng xe nhanh. Phân xưởng khai thác có tổ máy khoan, tổ điện cũng trong điều kiện vật tư phụ tùng thay thế khó khăn, đã tận dụng các phụ tùng trước đây đã thay ra để sửa chữa cải tiến lại, vẫn sử dụng tốt, đảm bảo năng suất định mức mét khoan, đóng góp vào thành tích khoan nổ đất đá, tỷ lệ phá đá, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Kết thúc thi đua hàng năm, nhiều cá nhân và tổ đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp, Tổ lao động xã hội chủ nghĩa. Năm 1991 có 20 chiến sỹ thi đua, trong đó có 4 chiến sỹ thi đua cấp công ty; 6 tổ đạt tổ lao động xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt trong 2 năm 1995 và 1997, số tổ đạt tổ lao động xã hội chủ nghĩa và số cá nhân giành danh hiệu chiến sỹ thi đua cao. Năm 1995 có 31 người, 12 người đạt cấp công ty, 15 tổ lao động xã hội chủ nghĩa; năm 1997, có 42 người, 10 người đạt cấp công ty và 14 tổ lao động xã hội chủ nghĩa.
    Giai đoạn 1991 – 1998 lại là những năm mỏ sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả nhất. Hàng năm mỏ luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn diện nhiệm vụ được Công ty giao, về trước đích thời gian từ 15 – 30 ngày. Ngoài việc giá than đã được Nhà nước điều chỉnh tăng lên 286.000 đ/tấn, tăng hơn nhiều so với giá trước đây, và do làm tốt công tác hạch toán và quản lý giá thành, tiết kiệm chi phí nên hàng năm mỏ đều có lãi. Thời kỳ này mỏ tiêu thụ sản phẩm ổn định nhất, hàng năm đều đạt trên 10 vạn tấn. Đặc biệt, năm 1996 tiêu thụ đạt mức cao nhất (gần 14,5 vạn tấn) qua 37 năm sản xuất của mỏ. Như trên đã nói, trong những năm 1991 – 1998, mỏ than Na Dương gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức, có những khó khăn tưởng chừng như không vượt qua được. Song công nhân, cán bộ của mỏ đã vượt lên mọi khó khăn, trở lực, đoàn kết một lòng, bình tĩnh tự tin tháo gỡ khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lòng tin của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Tổng công ty, Công ty than Nội Địa. Từ những thành tích đặc biệt xuất sắc đó, công nhân, cán bộ của mỏ được Đảng, Nhà nước, Chính phủ tặng thưởng các phần thưởng cao quý, là sự đánh giá đúng mức và khích lệ đội ngũ thợ mỏ nơi đây càng vươn lên vượt mọi khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Ngày 2/9/1991, mỏ long trọng tổ chức đón nhận 2 Huân chương Lao động hạng Nhất và Quân công hạng Ba.
Năm 1997, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.
2 năm 1993 và 1997, được Công ty tặng cờ đơn vị sản xuất kinh doanh khá nhất.
2 năm 1994 và 1995, được Công ty tặng cờ đơn vị bảo đảm việc làm và đời sống khá nhất.
2 năm 1995 và 1996, được Công ty tặng cờ đơn vị bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động khá nhất.
Năm 1997, CBCN-VC mỏ được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Năm 1998, được Công ty tặng cờ Đơn vị hạch toán và quản lý giá thành khá nhất.
Sau Đại hội khóa XVI năm 1991, ngày 15-3-1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ khoá XVII được tổ chức trọng thể tại nhà văn hoá trung tâm của mỏ, có 120 đại biểu tham gia. BCH được bầu gồm 15 đồng chí, đồng chí Lương Thanh Thuận được tái cử giữ chức Bí thư (đồng chí Nguyễn Văn Vọng làm Giám đốc mỏ, đến tháng 1-1998, đồng chí Nguyễn Văn Chung được giữ chức Giám đốc mỏ. Tại đại hội giữa nhiệm kỳ, tháng 9-1999, đồng chí Lương Thanh Thuận nghỉ chế độ, đồng chí Nguyễn Văn Chung được bầu giữ chức Bí thư-Giám đốc mỏ, đồng chí Vũ Phú Huy được bầu giữ chức Phó bí thư).
 Đại hội đã thẳng thắn kiểm điểm đánh giá những tồn tại, yếu kém, những gì làm được và những việc chưa làm được. Trên tinh thần thẳng thắn, trung thực nhìn vào sự thực, nói đúng sự thực, đi sâu phân tích những nguyên nhân tồn tại để tìm ra các giải pháp kịp thời chấn chỉnh và giải quyết những khó khăn, Đại hội kêu gọi mỗi đảng viên nêu cao tinh thần tiền phong gương mẫu phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng phân công, các khó khăn bước đầu đã được giải quyết, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn thách thức, đòi  hỏi mỗi đảng viên phải cố gắng nhiều hơn nữa.
Giai đoạn này Công đoàn mỏ đã thể hiện đầy đủ vai trò của tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Trong bối cảnh công nhân thiếu việc làm, đời sống gặp khó khăn, hàng trăm đoàn viên công đoàn phải thuyên chuyển công tác, nghỉ chế độ, diễn biến tư tưởng trong công nhân viên chức và đoàn viên công đoàn nảy sinh, Ban chấp hành Công đoàn đã tham mưu đề xuất với lãnh đạo tìm cách tháo gỡ, đi sâu đi sát đoàn viên công đoàn và người lao động, giải thích tuyên truyền đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, vận động mọi người càng khó khăn càng phải thương yêu đùm bọc nhau hơn, nhường cơm sẻ áo, người nghỉ việc nhường lại việc làm cho người chưa nghỉ, san sẻ việc làm, điều tiết thu nhập để cùng nhau vượt qua.
Khi khó khăn đã được giải quyết, Công đoàn lại tiếp tục vận động, giáo dục đoàn viên giữ gìn xe máy tốt, bởi xe máy là tư liệu sản xuất đem lại nguồn sống cho mỗi gia đình; tích cực lao động để tăng năng suất, làm ra nhiều sản phẩm để có thu nhập cao. Bằng nguồn đoàn phí do đoàn viên đóng góp, Công đoàn đã xây dựng được nguồn quỹ 100 triệu đồng, gửi ngân hàng để lấy lãi; từ nguồn lãi này giải quyết giúp đỡ cho những trường hợp đặc biệt khó khăn, ốm đau, hoạn nạn. Lúc vui cũng như khi buồn, đều có công đoàn chia sẻ, động viên; mọi thắc mắc, kiến nghị đều được giải thích một cách thỏa đáng. Công đoàn mỏ đã trở thành chỗ dựa tin cậy của đoàn viên công đoàn và người lao động. Trong phong trào kế hoạch hóa gia đình, Ban nữ công công đoàn đã đi sâu đi sát nữ công nhân viên chức để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đồng thời vận động chị em thực hiện tốt phong trào gia đình chỉ có từ một đến hai con. Những chị em thực hiện tốt được đề nghị giám đốc và công đoàn có thưởng và tặng phẩm...
Năm 1993, Công đoàn mỏ được Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tặng cờ Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất xắc.
Năm 1995, được Công đoàn Bộ Năng lượng tặng cờ Công đoàn xuất xắc nhất về vệ sinh an toàn lao động.
Năm 1996, được Công đoàn Bộ Năng lượng tặng cờ Công đoàn cơ sở có phong trào thi đua lao động xuất sắc.
Năm 1997, được Liên đoàn lao động tỉnh Lạng Sơn tặng cờ Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc.
Năm 1998, được Công đoàn Tổng Công ty than Việt Nam tặng cờ đơn vị đạt thành tích  xuất sắc.
Năm 2000, được Tổng công đoàn lao động Việt Nam tặng cờ thi đua xây dựng đời sống văn hóa cơ sở CNVC - lao động 10 năm (1990-2000).
Năm 1997, sau 38 năm trực thuộc Công đoàn, Liên đoàn lao động tỉnh Lạng sơn, Công đoàn mỏ đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ chỉ đạo sâu sát, trên tinh thần đoàn kết giai cấp công nhân và cũng học được những bài học kinh nghiệm trong công tác công đoàn và phong trào công nhân viên chức của Liên đoàn lao động tỉnh. Về phần mình, Công đoàn mỏ là một trong những công đoàn cơ sở công nghiệp trung ương đóng tại địa phương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đồng thời cũng chia sẻ được những kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo của một công đoàn cơ sở công nghiệp với Liên đoàn lao động tỉnh. Năm 1997, Công đoàn mỏ than Na Dương đã chuyển về trực thuộc Công đoàn Công ty than Nội địa và công đoàn ngành.
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh mỏ than Na Dương kể từ ngày thành lập là đoàn cơ sở trực thuộc Tỉnh đoàn Lạng Sơn (từ năm 1959 đến tháng 6-1966 không có cán bộ đoàn chuyên trách; từ tháng 10-1966 đến năm 1998 có cán bộ đoàn chuyên trách và từ 2002 lại không có cán bộ đoàn chuyên trách, thực hiện chế độ bán chuyên trách, kiêm nhiệm), là một trong những đoàn cơ sở công nghiệp trung ương mang tính đặc thù riêng, với số lượng đoàn viên không đông nhưng chất lượng đoàn viên cao, số đoàn viên có trình độ văn hoá, bằng cấp từ trung học, cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ cao. Những năm 1991, 1992, Đoàn mỏ là đoàn cơ sở có phong trào công nhân thanh niên xuất sắc được Tỉnh đoàn đánh giá rất cao. Hàng năm Tỉnh đoàn thường tổ chức các đoàn bạn đến tham quan, giao lưu học hỏi kinh nghiệm. Từ năm 1980, Đoàn mỏ được Tỉnh đoàn tin tưởng giao cho quản lý, theo dõi, chỉ đạo đoàn viên thanh niên, thiếu niên và nhi đồng khối trường học khu vực mỏ. Chính vì vậy hàng năm ngoài việc tổ chức các phong trào hoạt động của đoàn viên thanh niên mỏ, đoàn mỏ còn tổ chức các hoạt động cho các cháu thiếu niên nhi đồng khối các trường vào dịp 26-3, 1-6, ngày tết trung thu và các ngày lễ lớn trong năm khác. Đoàn tổ chức kết nghĩa các chi đoàn phân xưởng với các chi đoàn trường học, tổ chức các hoạt động phong phú thu hút ngày càng đông học sinh tham gia sinh hoạt đoàn, trở thành trung tâm giáo dục bồi dưỡng thanh niên sống có lý tưởng, giới thiệu được nhiều đoàn viên ưu tú đứng vào hàng ngũ của Đảng.
Năm 1992, Đoàn mỏ được Tỉnh đoàn giới thiệu chọn đăng cai Hội nghị tổng kết phong trào chất lượng, kiểu dáng, tiết kiệm (gọi tắt là phong trào CKT) do Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức. Cũng tại Hội nghị này đoàn mỏ đã thuyết trình sáng kiến pha chế dầu liệu được Hội nghị đánh giá cao.
Năm 1994, Đoàn mỏ tổ chức 2 lớp dạy cắt may cho đoàn viên thanh niên trong phong trào thanh niên lập nghiệp, mời giáo viên có tay nghề về hướng dẫn. Sau 2 tuần, một số học viên đã tự cắt may, có đồng chí sau này đã mở được cửa hàng cắt may. Đoàn còn mở lớp dạy khiêu vũ, mời giáo viên từ Sở văn hóa Lạng Sơn về hướng dẫn, tạo không khí vui tươi lành mạnh trong đoàn viên thanh niên.
Các năm 1995 – 1998, trong hoàn cảnh khó khăn chung của mỏ, Đoàn mỏ cũng gặp không ít khó khăn để duy trì hoạt động. Hầu hết đoàn viên thanh niên trẻ tuổi được thuyên chuyển công tác về các đơn vị bạn, số xin nghỉ chế độ 176 để chuyển làm việc khác, số còn lại đã đến tuổi trưởng thành, Đoàn mỏ ngày càng thu hẹp cả về số lượng đoàn viên thanh niên và chất lượng hoạt động. Năm 1998, được sự đồng ý của Thường vụ Đảng uỷ, Ban giám đốc mỏ, Đoàn mỏ có văn bản trình Tỉnh đoàn Lạng Sơn về việc giải thể Ban chấp hành đoàn mỏ khoá 18, đồng thời đề nghị chuyển đoàn viên thanh niên, thiếu niên nhi đồng khối trường học về trực thuộc Huyện đoàn Lộc Bình, tháng 12/1998, Tỉnh đoàn Lạng Sơn đã có văn bản đồng ý.
Qua hơn 38 năm hoạt động, dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ mỏ và sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh đoàn Lạng sơn, Đoàn mỏ than Na Dương đã hoàn thành xuất sắc chức năng nhiệm vụ của mình, tổ chức tốt phong trào thanh niên công nhân, thực hiện được nhiều công trình thanh niên, đầu xe đầu máy thanh niên. Đặc biệt là công trình kè hồ thanh niên với hơn 200m3 đá đã được khai thác vận chuyển về mỏ để kè hồ, còn in đậm dấu ấn và tồn tại mãi mãi. Đoàn đã bồi dưỡng giới thiệu cho Đảng hàng trăm đoàn viên ưu tú, nhiều đồng chí đã trưởng thành trên mọi lĩnh vực công tác. Qua hơn 38 năm hoạt động, với 18 nhiệm kỳ, Đoàn mỏ đã không ngừng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, lúc thời bình cũng như lúc thời chiến. Nhiều đoàn viên, thanh niên của mỏ đã tình nguyện ra trận trực tiếp chiến đấu, có người trích máu viết đơn tình nguyện xin được ra trận. Trong chiến tranh chống phá hoại của giặc Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới, hàng trăm đoàn viên thanh niên trực tiếp chiến đấu trên tuyến 1, có những người đã anh dũng hy sinh, như Nông Minh Quý, Nông Minh Đức. Những thành tích của Đoàn được Đảng ủy mỏ đánh giá cao, xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng, được Tỉnh đoàn tặng cờ và giấy khen. Đặc biệt, Đoàn đã được Trung ương đoàn tặng cờ thưởng luân lưu 3 năm liên tục (1986 đến 1988); 5 đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, Giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên của mỏ được tặng Huy hiệu Vì thế hệ trẻ Việt Nam.
Các mặt hoạt động khác:
Công tác bảo vệ tài sản, an ninh trật tự an toàn xã hội của mỏ thời kỳ này cũng không tránh khỏi những khó khăn, phức tạp. Đặc biệt, khi có tin xi măng Bỉm Sơn không tiêu thụ than Na Dương nữa, nguy cơ mỏ phải đóng cửa, nhiều diễn biến tư tưởng, cơ hội đã nảy sinh, kể cả trong công nhân và nhân dân khu vực mỏ đóng quân. Hiện tượng trộm cắp tài sản vật tư, nhiên liệu xảy ra khá phổ biến, từ lén lút đến công khai. Cũng do công tác quản lý còn có kẽ hở, một số thủ kho xăng dầu và lái xe móc nối với các phần tử xấu ở ngoài trộm cắp nhiên liệu, xảy ra triền miên. Qua nhiều năm vấn nạn tham ô, trộm cắp dầu đã trở nên nhức nhối. Nạn lấy cắp than để sấy thuốc lá ngang nhiên giữa ban ngày. Hàng trăm người chia thành nhiều nhóm lấy ở nhiều địa điểm, khi bị lực lượng bảo vệ ngăn cản số người này còn đánh trả. Đối tượng gánh dầu khi gặp lực lượng bảo vệ đi tuần tra bắt quả tang đã ngang nhiên thách đố, dùng hung khí đánh trả quyết liệt. Các vụ lấy cắp vật tư dây cáp điện (dây đồng), cắt đường cáp điện, chặt dây thu lôi chống sét, chặt dây cáp 6kV trên khai trường... cũng xảy ra không ít.
Địa hình khu vực mỏ là đồi núi khe suối rất khó cho việc tuần tra canh gác và cơ động, khai trường sản xuất rộng không có tường rào che chắn, các bãi than liền kề với các làng bản của nhân dân...
Lực lượng bảo vệ lúc đầu với quân số ít, ngoài các điểm kho tàng canh gác 24/24 giờ, các điểm còn lại đã bố trí song vẫn không đủ số lượng. Chất lượng của bảo vệ cũng không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian cao điểm. Đứng trước tình hình khó khăn, phức tạp đó, để duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an ninh, bảo vệ tài sản không để ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tư tưởng người lao động, không còn con đường nào khác là lập lại trật tự, kỷ cương. Lãnh đạo mỏ tập trung sàng lọc lực lượng bảo vệ chuyên trách, loại ra khỏi lực lượng những người không đủ phẩm chất, năng lực, đồng thời tăng cường thêm lực lượng cho phòng bảo vệ, quân số của phòng có thời kỳ lên đến gần 60 người. Năm 1992, mỏ đã hợp đồng với trung đoàn đặc nhiệm cơ động cử 1 tổ 20 cán bộ chiến sỹ lên mỏ trực tiếp làm công tác bảo vệ. Sau 2 năm với sự cố gắng của lực lượng bảo vệ và lực lượng tăng cường, cùng với sự chỉ đạo kiên quyết, quyết liệt của mỏ, tình hình trật tự an ninh khu vực mỏ đã được cải thiện một cách đáng kể, hiện tượng trộm cắp giảm hẳn. Các năm từ 1995-1998, lực lượng bảo vệ chuyên trách đã được giảm dần theo tình hình và nhiệm vụ. Năm 1996, mỏ thanh lý hợp đồng với trung đoàn đặc nhiệm cơ động, ghi nhận những đóng góp và cũng rút ra những bài học cho lực lượng bảo vệ chuyên trách của mỏ. Đó là tinh thần kiên quyết tấn công tội phạm và khả năng cơ động mọi lúc mọi nơi.
Với công tác xã hội từ thiện và phong trào đền ơn đáp nghĩa, đã trở thành truyền thống tốt đẹp của các thế hệ công nhân mỏ Na Dương. Đội ngũ công nhân đầu tiên về xây dựng mỏ 100% là bộ đội chống Pháp, trong các cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ biên giới phía bắc, hàng trăm cán bộ công nhân mỏ ra trận chiến đấu... Điều đó cho thấy, ngay trong nội tại mỏ cũng có nhiều đối tượng chính sách cần được quan tâm. Trong đó có 7 gia đình liệt sỹ, 11 thương binh, 3 gia đình thương binh, 1 gia đình có công với cách mạng. Thấm nhuần đạo lý đền ơn đáp nghĩa, mỏ luôn coi trọng chính sách đối với thương binh liệt sỹ, gia đình thương binh liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng. Bằng những việc làm thực tế, mỏ đã đón nhận những thương binh hoàn thành nhiệm vụ trở về, nếu còn điều kiện và nguyện vọng, đều được mỏ bố trí xếp sắp vào mỏ làm việc với công việc phù hợp để có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống bản thân và gia đình.
Hàng năm, công nhân, cán bộ mỏ luôn dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa bằng việc làm thiết thực, tình nguyện đóng góp mỗi người một ngày lương vào quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng quỹ được hàng trăm triệu đồng; thông qua địa phương hoặc trực tiếp ủng hộ giúp đỡ gia đình chính sách, thăm hỏi tặng quà vào những ngày lễ, tết, ngày 27-7 hàng năm. Những thương bệnh binh, gia đình thương binh ốm đau được y tế mỏ thăm khám chữa bệnh miễn phí. Năm 1995, mỏ chủ động làm việc với Huyện uỷ, UBND huyện Lộc Bình được đón nhận và phụng dưỡng suốt đời Mẹ Việt Nam anh hùng Lành Thị Khâm. Mỏ đóng góp 15 triệu đồng cùng huyện Lộc Bình xây nhà tình nghĩa cho mẹ.
Năm 1992, mỏ tặng 25 sổ tiết kiệm với giá trị 7,5 triệu đồng cho 25 thương binh và gia đình liệt sỹ của Trung đoàn kết nghĩa 462, Sư đoàn 338, cử đoàn cán bộ đi 6 tỉnh (Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Bắc, Thái Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phú) để thăm hỏi, tặng sổ tiết kiệm cho từng gia đình.
Từ những thành tích đó, năm 1997, kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sỹ, cán bộ công nhân viên chức mỏ than Na Dương được Chính phủ tặng bằng khen về công tác thương binh liệt sỹ và phong trào đền ơn đáp nghĩa.
Cùng với phong trào đền ơn đáp nghĩa, mỏ luôn quan tâm đến công tác xã hội từ thiện. Hàng năm vận động công nhân cán bộ đóng góp xây dựng các quỹ nhân đạo từ thiện với đạo lý lá lành đùm lá rách để gửi giúp các vùng bị thiên tai; thực hiện phong trào xoá đói giảm nghèo của huyện, tỉnh phát động; đóng góp nhiều triệu đồng ủng hộ quỹ chất độc màu da cam, quỹ tình thương; thăm hỏi tặng quà các gia đình cán bộ công nhân của mỏ và các đơn vị trong công ty có thân nhân bị tai nạn lao động. Những gia đình công nhân mỏ có bố hoặc mẹ bị tai nạn chết người, mỏ thực hiện chính sách giới thiệu cho con đi học các nghề, sau đó tiếp nhận về làm việc với thu nhập ổn định, giải quyết bớt khó khăn về đời sống cho mỗi gia đình...


 

Màn hát múa chào mừng kỷ niệm 55 năm thành lập công ty than Na Dương ( ảnh của Nguyễn Quang Tình).

   Phần thứ III – Tổ chức sản xuất ổn định, phát triển bền vững
                     thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
                                                     (1999 - 2014)

Sau nhiều năm tính toán về hiệu quả của việc xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Na Dương của Tổng công ty than Việt Nam (nay là Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam) sẽ mang lại lợi ích về nhiều mặt:
- Tận thu được nguồn tài nguyên của đất nước (với trữ lượng hàng trăm triệu tấn);
- Xây dựng được một khu công nghiệp than - điện trên vùng biên giới, giải quyết được việc làm cho hàng ngàn người lao động;
Ngày 3-12-1998, Chính phủ đã quyết định phê duyệt đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Na Dương với tổng mức đầu tư của dự án hơn 124 triệu USD và giao cho Tổng công ty than Việt Nam làm chủ đầu tư.
    Ngày 16-5-1999, Bộ Công nghiệp quyết định thành lập Ban quản lý dự án xây dựng nhà máy Nhiệt điện Na Dương. Nhà máy gồm 2 tổ máy, công suất phát điện 2 x 50 MW; gồm 5 gói thầu, trong đó có 1 gói thầu chỉ định và 2 gói thầu đấu thầu quốc tế, 2 gói thầu đấu thầu trong nước. Mỏ than Na Dương thực hiện gói thầu san gạt mặt bằng Nhà máy do Công ty than Nội Địa được chỉ định thầu, giao.
Ngày 20-3-1999, Mỏ than Na Dương long trọng làm lễ khởi công gói thầu san gạt mặt bằng nhà máy nhiệt điện Na Dương (tại trung tâm Nhà máy Nhiệt điện Na Dương hiện nay). Trong buổi lễ có sự chứng kiến của Bí thư Tỉnh uỷ Lạng Sơn, Chủ tịch HĐND, UBND tỉnh Lạng Sơn, các ban, ngành của tỉnh, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Lộc Bình, Tổng Giám đốc Tổng Công ty than Việt Nam, Giám đốc Công ty than Nội Địa cùng hàng ngàn công nhân cán bộ mỏ than Na Dương và nhân dân các dân tộc các xã Sàn Viên, Lợi Bác, Đông Quan, thị trấn Na Dương… Sau lễ khởi công, các đại biểu dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập mỏ than Na Dương (21/3/1959 – 21/3/1999).
Sau hơn 3 năm thi công xây dựng và lắp đặt, vận hành chạy thử, ngày 31-10-2005, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương đã được Hội đồng nghiệm thu của Tổng công ty nghiệm thu, và từ ngày 3 tháng 11 năm 2005, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương chính thức phát điện thương mại.
Nhà máy nhiệt điện Na Dương ra đời không chỉ là niềm vui và tự hào của công nhân, cán bộ Nhà máy, mà còn là của những người thợ mỏ Na Dương. Bởi từ đây mỏ có thêm trách nhiệm phải luôn đảm bảo việc sản xuất than cung cấp cho Nhà máy bên cạnh việc tiếp tục cung cấp than cho Công ty xi măng Bỉm Sơn. Đặc biệt là dự án Than - Điện có ý nghĩa sống còn đối với mỏ, đóng góp cho kinh tế khu vực Lạng Sơn và của nền kinh tế quốc dân nói chung. Cùng với sự phát triển khu công nghiệp Than - Điện theo đó sẽ phát triển các lĩnh vực dịch vụ, giao thông vận tải, trật tự an toàn, an sinh xã hội. Điểm công nghiệp Na Dương được đô thị hoá, các loại hình kinh tế đã và đang phát triển, tạo ra nguồn cung cầu cho nền kinh tế khu vực thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình và tỉnh Lạng Sơn.
Để hoàn thành sản lượng than khai thác và tiêu thụ hàng năm, đáp ứng cho nhiệt điện và xi măng, mỏ cần phải bốc xúc, vận chuyển một lượng lớn đất đá, tới hàng triệu mét khối mỗi năm. Do đó mỏ đã tập trung tăng cường mua sắm thiết bị hiện đại hơn, đồng thời làm công tác thanh lý, điều chuyển các xe, máy đã hết khấu hao.
Đầu tư các máy khoan CBb 2M, CBP 160.
Các máy xúc CAT 330B, CAT 330D, máy xúc lật ZL30A.
Các máy gạt, san T171 (3 cái), T180 (3 cái), VOLVOA780B.
Các máy bơm nước 250S130 650m3/giờ (2 cái), 120m3/giờ.
Các loại xe ô tô BELAZ 7548D7 (5 cái),  CAT 773E (6 cái),  VOLVOA 40D (2 cái), Kpa3 256B, KrAZ 6510 (2 cái).
Các thiết bị gia công cắt gọt: máy ép thuỷ lực 100T, máy doa CLIMAXBB 5000.
Các thiết bị điện: biến thế 6/0.4 kV-250KVA, tủ điện cao thế 6kV.
Các thiết bị sàng tuyển: máng cào 120 tấn/giờ, băng tải di động B 650, băng tải B1000 (3 cái), máy cấp liệu lắc W = 150 tấn/giờ, cân băng điện tử .
Tình hình sản xuất kinh doanh của mỏ giai đoạn 1999 - 2003 gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là tiêu thụ sản phẩm giảm sút một cách đáng kể, do Công ty xi măng Bỉm Sơn đã tiến hành cải tạo xong 1 lò nung, mức độ tiêu thụ than Na Dương giảm dần. Năm 1998, mỏ tiêu thụ hơn 133 ngàn tấn than, sang năm 1999 giảm chỉ còn 65 ngàn tấn, tức chỉ bằng hơn 57%. Đến năm 2003 sản lượng đó chỉ còn hơn 32 ngàn tấn bằng 28% so với năm 1998, bằng 47% so với năm 2001.
Trong khi đó nhiệm vụ bốc xúc vận chuyển đất đá ngày một tăng cao, mỏ vừa bóc đất đá sản xuất, vừa bóc đất đá xây dựng cơ bản, tập trung cho nhiệm vụ nắn suối Khoòn Chè, một trong những công trình trọng điểm của mỏ trong 2 năm 2001 – 2002. Năm 2001, mỏ bóc xúc, vận chuyển hơn 527 ngàn m3; năm 2002 tăng lên hơn 1.394.754 m3, bằng 253%. Năm 2003 tăng lên 1.880.878 m3, gấp hơn 3,5 lần so với năm 2001.
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ sản xuất, mỏ đã tiến hành sắp xếp công tác tổ chức.
Năm 1999, sáp nhập 2 phòng Tổ chức cán bộ, Lao động tiền lương thành Phòng tổ chức lao động tiền lương.
Năm 2000, chuyển Tổ điện nước (xưởng cơ điện quản lý) về trực thuộc Phòng cơ điện quản lý.
Năm 2002, giải thể Phòng KCS, chuyển nhiệm vụ KCS về Phòng kỹ thuật quản lý; sáp nhập Văn phòng đảng uỷ và Văn phòng công đoàn thành Văn phòng đảng, đoàn, thanh niên; tách Công trường cơ khí khai thác thành 2 đơn vị Phân xưởng vận tải và Công trường khai thác.
Năm 2004, thành lập lại Phòng điều độ sản xuất; chuyển công tác thi đua khen thưởng về Phòng tổ chức lao động tiền lương quản lý.
Năm 2006, thành lập Phòng văn hoá thể thao.
Năm 2007, thành lập Phân xưởng điện nước và Ban khoán. Tách Văn phòng đảng đoàn ra thành hai văn phòng (Văn phòng Đảng uỷ - Thanh niên và Văn phòng Công đoàn mỏ).
Năm 2008, chuyển nhiệm vụ công tác đầu tư về Phòng kế hoạch thành Phòng kế hoạch đầu tư, Phòng đầu tư xây dựng cơ bản trước đây thành Phòng xây dựng cơ bản .
Tháng 5-2006, Bộ Công nghiệp có Quyết định số 1372/QĐ-BCN về việc đổi tên Xí nghiệp than Na Dương thành Công ty TNHH một thành viên than Na Dương.
Tháng 12-2006, Hội đồng quản trị Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc có Quyết định số 0295/QĐ-HĐQT về việc đổi tên Công ty TNHH một thành viên than Na Dương thành Công ty TNHH than Na Dương-VVMI.
Sau khi hoàn thiện việc bố trí sắp xếp lại các công trường, phân xưởng, phòng ban phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ sản xuất, mỏ được tăng cường đầu tư thiết bị đồng bộ hiện đại, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ bốc xúc vận chuyển đất đá sản xuất, đất xây dựng cơ bản, chuẩn bị sẵn sàng cho việc sản xuất than phục vụ nhà máy Nhiệt điện Na Dương.
Từ năm 2003, mỏ bóc đất mỗi năm một tăng cao.
Từ năm 2004, khi nhà máy nhiệt điện hoàn thành, nhiệm vụ sản xuất than đã trở thành nhiệm vụ chính trị cực kỳ quan trọng, bằng mọi giá phải cung cấp đầy đủ, ổn định than cho nhà máy nhiệt điện từ 91.371 tấn năm 2004, năm 2005 tăng lên 324.968 tấn bằng 355% so với năm 2004, năm 2008 tăng lên 550.000 tấn.
Năm 2009, năm công nhân, cán bộ mỏ long trọng tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày thành lập (21/3/1959 - 21/3/2009), kế hoạch sản lượng bốc xúc vận chuyển đất đá là 5.549.194 m3, sản xuất và tiêu thụ than là 555.000 tấn.
Do yêu cầu nhiệm vụ sản xuất bốc xúc và vận chuyển đất đá, than nguyên khai, mỏ Na Dương tập trung làm tốt các mặt quản lý như quản lý kỹ thuật, cơ điện và các mặt quản lý khác. Đặc biệt là công tác quản lý kỹ thuật sản xuất:
- Quản lý các vấn đề về phương hướng khai thác, phương hướng phát triển sản xuất, cải tạo mỏ, hoàn thiện công nghệ kỹ thuật về khai thác mỏ nhằm đảm bảo khai thác đúng phương hướng, đưa công tác quản lý kỹ thuật vào nề nếp.
- Quản lý việc bảo vệ tài nguyên trong phạm vi ranh giới địa lý của mỏ, phát triển sản xuất trên cơ sở quy hoạch khai thác, kỹ thuật công nghệ ngắn hạn, dài hạn.
- Nghiên cứu xử lý môi trường, nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Quản lý và làm tốt các nhiệm vụ kỹ thuật mỏ: khoan nổ mìn, bốc xúc, đường sá, bãi thải, thoát nước...
- Thực hiện công tác lấy mẫu, tiến hành phân tích xác định chất lượng than, đá kẹp phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Thực hiện chế độ khoán quản nội bộ hai yếu tố: tiền lương và nhiên liệu; thực hiện khoán theo giá thành công đoạn:
- Đối với bốc xúc đất đá, gồm khoan, nổ, xúc, vận chuyển, san gạt.
- Đối với sản xuất than, gồm bốc xúc, vận chuyển, bơm, sàng tuyển.
Năm 2003, đầu tư xây dựng khu Nhà điều hành sản xuất với một khu nhà 3 tầng khang trang. Năm này, mỏ bàn giao toàn bộ công trình Cung trẻ thơ - trường Mầm non mỏ than Na Dương về Phòng giáo dục và đào tạo huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) quản lý. Cơ quan quản lý vẫn để tên là trường Mầm non mỏ Na Dương để ghi nhận công lao đóng góp của cán bộ công nhân viên chức mỏ than Na Dương. Cũng trong năm, toàn bộ hệ thống trường từ mầm non, mẫu giáo, nhà trẻ tới cấp tiểu học phổ thông, trung học cơ sở, trung học phổ thông mỏ đã bàn giao cho ngành giáo dục địa phương quản lý.
Năm 2004, đầu tư đổ đường bê tông từ ngã 3 mỏ vào kho than dài 2,1 km; phá dỡ khu nhà làm việc cơ quan mỏ cũ (còn gọi là Nhà vuông. Sau 40 năm tồn tại, khu Nhà vuông đã vượt qua bao nắng mưa của thời gian, chứng kiến những thăng trầm, gian nan vất vả của mỏ và cũng từ Nhà vuông này bao những lo toan tính toán, những quyết sách mang tính chiến lược được hoạch định, những giải pháp hữu hiệu được thực thi. Khu Nhà vuông một thời là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ công nhân viên chức mỏ).
Tháng 6/2004 Công ty than Nội Địa xây dựng nhà nghỉ tại khu du lịch Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn), tháng 12/2004 công trình hoàn thành mỏ được nhận bàn giao quản lý và đưa vào sử dụng, công trình mang tên "Nhà nghỉ điều dưỡng công nhân mỏ Na Dương".
Năm 2005, xây dựng khu nhà hội trường, nhà khách, nhà tập thể 3 tầng; thi công đổ đường bê tông từ cầu Nà Đươi đến bãi thải Nà Đươi, dài 1,6 km (công trình được mang tên Công trình thanh niên).
Năm 2007, khởi công xây dựng khu Liên hợp thể thao (công trình đoàn kết cùng đầu tư xây dựng giữa 2 công ty Than - Điện Na Dương).
Năm 2008, cắt băng khánh thành nhà rèn luyện thể chất (công trình nằm trong khu Liên hợp thể thao).
Về công tác Đảng, đây là giai đoạn có nhiều biến động về tổ chức. Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ khoá XVIII họp từ ngày 15 đến ngày 16-10-2000 có 150 đảng viên tham dự. Đại hội bầu ra Ban chấp hành Đảng uỷ khoá XVIII gồm 15 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Chung được bầu làm Bí thư Đảng uỷ - kiêm Giám đốc mỏ thay đồng chí Lương Thanh Thuận nghỉ chế độ. Đây cũng là Đại hội đánh dấu sự thay đổi về công tác chuyên trách Đảng uỷ qua 41 năm với 17 nhiệm kỳ thực hiện Bí thư Đảng uỷ chuyên trách, sang chế độ kiêm nhiệm bán chuyên trách và đây cũng là thời kỳ Đảng uỷ mỏ có nhiều biến động do công tác tổ chức của mỏ có thay đổi, chuyển đổi theo sự chỉ đạo của Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - TKV.
Tháng 2-2001, Ban chấp hành Đảng bộ họp, bầu đồng chí Vũ Phú Huy làm Bí thư Đảng uỷ mỏ kiêm phó giám đốc.
Tháng 6-2002, Ban chấp hành Đảng bộ mỏ họp, bầu đồng chí Lê Văn Dụng làm Bí thư Đảng ủy mỏ kiêm giám đốc mỏ, thay đồng chí Vũ Phú Huy chuyển công tác.
Tháng 9/2003, Ban thường vụ tỉnh uỷ Lạng Sơn quyết định đồng chí Đào Hữu Tu giữ chức Bí thư Đảng ủy kiêm giám đốc mỏ thay đồng chí Lê Văn Dụng chuyển công tác.
Từ ngày 28 đến ngày 29 tháng 9 năm 2005, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ khoá XIX được tiến hành. Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 15 đồng chí, đồng chí Đào Hữu Tu được tái cử làm Bí thư Đảng uỷ kiêm giám đốc mỏ. Tháng 1 năm 2006, Ban thường vụ tỉnh uỷ Lạng Sơn ra quyết định đồng chí Phạm Đức Thiện giữ chức Bí thư Đảng ủy kiêm giám đốc mỏ thay đồng chí Đào Hữu Tu có quyết định giữ chức Tổng Giám đốc Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc-TKV. Tháng 8 năm 2010, Đại hội đại biểu đảng bộ Công ty than Na Dương lần thứ XX được tổ chức tại Công ty, đồng chí Phạm Đức Thiện được bầu làm bí thư khóa XX ( 2010 -2015), tháng 11 năm 2010 đồng chí Phạm Đức Thiện được điều động về làm phó tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc, đồng chí Lý Văn Lục – Trưởng phòng Thị trường tổng công ty được điều động về làm giám đốc công ty và được Ban chấp hành Đảng bộ công ty bầu làm bí thư Đảng ủy từ ngày 15 tháng 11 năm 2010 đến nay (2014 -TG)
Đảng bộ công ty than Na Dương là Đảng bộ có truyền thống bề dày lịch sử rất đáng tự hào. Từ năm 1959 đến nay (2014), Đảng bộ vừa tròn 55 năm qua, kể từ tổ chức Chi bộ Đảng đầu tiên đến Đảng bộ mỏ, nay là Đảng bộ Công ty, đã qua 20 kỳ Đại hội, Đảng bộ mỏ than Na Dương luôn là Đảng bộ trực thuộc tỉnh uỷ Lạng Sơn.
Cũng như doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, Đảng bộ mỏ than Na Dương đã trải qua nhiều lần thay đổi. Song dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn cũng như thuận lợi, lúc hoà bình cũng như lúc chiến tranh ác liệt, từ cơ chế hành chính bao cấp sang cơ chế thị trường, Đảng bộ vẫn duy trì giữ vững vai trò lãnh đạo của mình, không ngừng nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở sở Đảng trong doanh nghiệp công nghiệp, vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, tính tiên phong gương mẫu của mỗi đảng viên. Đảng viên trong Đảng bộ không chỉ lãnh đạo về mặt tư tưởng, chính trị, tính tiên phong gương mẫu ở tất cả các vị trí chủ yếu của mỏ, các công trường phân xưởng phòng ban đều đã qua trình độ đại học, chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật (chỉ có một số ít trình độ trung cấp).Công tác đào tạo bồi dưỡng luân chuyển cán bộ được Đảng bộ chú ý, coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm rèn luyện trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ đó phát hiện bồi dưỡng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, chính trị. Chính từ việc làm này mà từ năm 1959 đến nay Đảng bộ công ty than Na Dương đã đào tạo bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ đông đảo có phẩm chất năng lực vững vàng, không chỉ đảm nhận các công tác chỉ đạo, lãnh đạo sản xuất kinh doanh của mỏ mà còn cung cấp hàng chục cán bộ ưu tú cho tỉnh Lạng Sơn, công ty, tổng công ty, bộ chủ quản...
Trải qua 20 kỳ đại hội, sau mỗi kỳ đại hội, tập thể cấp uỷ đã xây dựng quy chế lề lối làm việc, mối quan hệ giữa Đảng với giám đốc, cơ quan quản lý, với Huyện uỷ huyện Lộc Bình, Tỉnh uỷ Lạng sơn và Công đoàn mỏ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh của công ty; xây dựng quy chế dân chủ và chương trình hành động tháng, quý và cả năm, từ đó phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng, tính chủ động của cơ quan quản lý và tổ chức quần chúng, phát huy được trách nhiệm từng cá nhân trước đảng, trước tổ chức và quần chúng công nhân lao động. Sau mỗi chủ trương, chỉ thị, nghị quyết đưa ra, cũng như thực hiện nghị quyết của cấp trên, Đảng bộ đều tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc và rút kinh nghiệm cái gì đã làm được, cái gì chưa làm được, tìm ra nguyên nhân, phân rõ trách nhiệm để tiếp tục triển khai thực hiện, vì vậy nâng cao được uy tín và vị trí lãnh đạo của Đảng bộ công ty. Kể từ ngày đầu thành lập, số lượng đảng viên của Công ty có 19 đồng chí và đã được Tỉnh ủy Lạng sơn đồng ý thành lập Ban cán sự đảng. Đến tháng 6/1959, số đảng viên của công ty là 59 đồng chí và đã được Tỉnh ủy Lạng Sơn ra quyết định thành lập Đảng bộ công ty trực thuộc tỉnh ủy Lạng Sơn là Đảng bộ cấp trên cơ sở, giai đoạn năm 1966 – 1967, số đảng viên của Đảng bộ là hơn 400 đồng chí. Đến tháng 4/2013, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã có Quyết định số 962/QĐ-TU chuyển Đảng bộ công ty than Na Dương là cấp trên cơ sở trực thuộc tỉnh ủy Lạng Sơn thành Đảng bộ cơ sở trực thuộc huyện ủy Lộc Bình cho phù hợp với quy mô hiện nay của Đảng bộ công ty ( có 222 đảng viên trong đó 44 đảng viên nữ sinh hoạt tại 11 chi bộ trực thuộc ). Đảng bộ công ty luôn là hạt nhân đoàn kết thống nhất, lãnh đạo công ty thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị là sản xuất kinh doanh và góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội được giao.
Hàng năm Đảng bộ công ty đều được tỉnh ủy Lạng Sơn và Huyện ủy Lộc Bình công nhận là tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, các đồng chí đảng viên trong chi bộ đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đảng bộ công ty đã  tích cực triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thực sự trở thành một phong trào lớn mà tất cả đảng viên, quần chúng đều tham gia. Cuộc vận động đã mang đến cho Công ty những chuyển biến tích cực: Mỗi đảng viên và CBCNV thấm nhuần tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh đã nâng cao được tính tự giác rèn luyện trong nhận thức, tư tưởng, đến tác phong đầu tầu, gương mẫu, ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động và sinh hoạt, góp phần quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Nhiều năm liên tục Đảng bộ công ty than Na Dương được tỉnh uỷ Lạng Sơn công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Giờ đây Đảng bộ công ty than Na Dương tiếp tục lãnh đạo cán bộ đảng viên và công nhân lao động thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, xây dựng Công ty than Na Dương ngày càng phát triển bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá của Đảng và Nhà nước đã đề ra cho ngành Than cũng như cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ công ty cùng với việc thực hiện nhiệm sản xuất kinh doanh, công ty cũng đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, nghĩa vụ của một doanh nghiệp trung ương đối với địa phương đóng trên địa bàn. Cán bộ, công nhân viên trong công ty đã tích cực tham gia các hoạt động từ thiện nhân đạo, ủng hộ tiền đóng góp xây dựng các quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”,”Nghĩa tình biên giới, hải đảo” “ Quỹ nạn nhân chất độc màu da cam”, xây dựng trường học, nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách thuộc địa bàn huyện Lộc Bình. Chỉ tính trong 5 năm (từ 2009 – 2013), công ty đã đóng góp ủng hộ các quỹ tại địa phương với số tiền gần 4 tỷ đồng.
    Tổ chức Công đoàn hiện nay của công ty bao gồm 682 đoàn viên; đã tích cực động viên người lao động trong công ty hăng hái tham gia lao động sản xuất đảm bảo an toàn và hiệu quả, vận động đoàn viên tham gia các hoạt động xã hội do địa phương phát động ...hàng năm công đoàn công ty đều được Công đoàn Tổng Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin và Liên đoàn lao động tỉnh Lạng Sơn tặng Giấy khen về thành tích trong hoạt động công đoàn và công nhận là tổ chức “Công đoàn cơ sở hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Đoàn thanh niên công ty bao gồm 243 đoàn viên; là tổ chức Đoàn trực thuộc huyện đoàn Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Đoàn thanh niên công ty luôn đi đầu trong các phong trào thi đua lao động sản xuất, tham gia tích cực các phong trào do huyện đoàn phát động và tiến hành tổ chức các phong trào hoạt động thể dục, thể thao, tham gia đầy đủ các phong trào Đoàn tại địa phương. Hàng năm đều được huyện đoàn Lộc Bình công nhận tổ chức Đoàn vững mạnh xuất sắc vì đã có thành tích hoàn thành xuất sắc công tác đoàn và phong trào thanh thiếu niên.  Tổ chức Hội Cựu chiến binh Công ty với tổng số 60 hội viên trực thuộc Hội Cựu chiến binh huyện Lộc Bình. Toàn thể hội viên hội cựu chiến binh Công ty đã phát huy tốt truyền thống “bộ đội Cụ Hồ”, tích cực trong lao động sản xuất và gương mẫu thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Tổ chức Hội đã thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy của Đảng ủy và lãnh đạo Công ty than Na Dương trong quá trình xây dựng và phát triển.
Trong 55 năm qua, Công ty than Na Dương luôn hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cấp trên giao, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với người lao động
Với những thành tích đạt được trong sản xuất, chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Công ty đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ ghi nhận và tặng thưởng những danh hiệu cao quý:
-  Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (năm 2005 ).
- 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì.
- 1 Huân chương Độc lập hạng Ba.
- 1 Huân chương Quân công hạng Ba.
- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì
- 02 Huân chương Lao động hạng Nhất
- Phân xưởng Khai thác và 4 công nhân của Công ty được tặng Huân chương lao động hạng Ba.
- 2 công nhân của Công ty được Thủ tướng Chính phủ công nhận và tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Ngoài ra Công ty còn được nhận nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, các danh hiệu thi đua, các phần thưởng của các Bộ, ban, ngành Trung ương và của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn trao tặng. Thành tích và kết quả đã đạt được qua hơn nửa thế kỷ, lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của Công ty đều nhận thức được rằng vinh dự này trước hết thuộc về công lao đóng góp, phấn đấu lao động quên mình của tập thể những người lao động các thế hệ trong Công ty, đồng thời đây cũng là thành quả của sự chỉ đạo sát sao, đúng đắn, sự giúp đỡ nhiệt tình và rất hiệu quả của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin, của Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam, của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các ban ngành đoàn thể tỉnh Lạng Sơn huyện ủy HĐND, UBND, MTTQ huyện Lộc Bình, của Đảng ủy HĐND, UBND, MTTQ và đồng bào các dân tộc Thị trấn Na Dương, của các xã trên địa bàn giáp ranh với Công ty như xã Sàn Viên, Lợi Bác, Đông Quan, Khuất Xá, và đặc biệt là sự đồng lòng của tập thể các thế hệ cán bộ, công nhân của công ty chung sức, chung lòng xây dựng và làm nên thành tích của Công ty trong 55 năm qua. Thành tích ấy cũng có đóng góp của Nhà máy Xi măng Hải phòng, Công ty Xi măng Bỉm sơn, Công ty Nhiệt Điện Na Dương, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các Công ty, Nông, lâm trường, các đơn vị lực lượng vũ trang,... đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho Công ty Than Na Dương vượt qua được những giai đoạn khó khăn nhất để tồn tại, đứng vững và phát triển.
Có thể nói hơn nửa thế kỷ đã đi qua, Công ty than Na Dương đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm và sự biến thiên của lịch sử, sự đổi thay của đời sống kinh tế xã hội đất nước. Người thợ mỏ Na Dương vẫn luôn vững vàng kiên định, giữ vững truyền thống “ Kỷ luật và đồng tâm”, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam, của Tổng Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin; tin tưởng vào tương lai của đất nước với trí tuệ và bàn tay khối óc của mình và tình cảm gắn bó và sự giúp đỡ của đồng bào các dân tộc tỉnh Lạng Sơn nói riêng và đồng bào cả nước nói chung, nhất định Công ty sẽ tiếp tục đi lên trên con đường với một tương lai tươi sáng và rộng mở.
Từ thành công của dự án Than – Điện Na Dương và để nâng cao sản lượng điện cung cấp cho đất nước đang trên con đường phát triển Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã quyết định đầu tư dự án nhà máy nhiệt điện Na Dương 2 với công suất tương đương hiện nay, vì vậy trong thời gian tới, Công ty than Na Dương sẽ được cải tạo mở rộng để nâng công suất tiêu thụ than lên 1.2 triệu tấn than/năm đáp ứng đủ than cho 2 nhà máy nhiệt điện.
Trong tương lai không xa, trên vùng đất biên cương phía Bắc của Tổ quốc, tổ hợp Than – Điện Na Dương hàng năm sẽ sản xuất cho Tổ quốc hàng tỷ ki lô oát điện, tạo ra hàng nghìn việc làm, là hạt nhân của Khu Công nghiệp Na Dương. Tổ hợp Than – Điện Na Dương là một dấu ấn thành công, là thành quả của sự quyết tâm dám nghĩ dám làm của những người thợ mỏ, của lãnh đạo Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh doanh đồng thời cũng là thành tích đáng tự hào của các thế hệ cán bộ công nhân viên Công ty than Na Dương. Để thực hiện thành công mục tiêu cung cấp đủ than cho hoạt động của các nhà máy nhiệt điện và góp phần bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh trên địa bàn biên giới, bảo vệ môi trường và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Lạng Sơn và của cả nước. Cán bộ công nhân Công ty Than Na Dương và Công ty Nhiệt điện Na Dương chắc chắn sẽ phát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, phát huy truyền thống “ Kỷ luật – Đồng tâm ”của công nhân ngành Than, chuẩn bị mọi điều kiện về nguồn lực lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật để đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng Khu Công nghiệp Na Dương thành một trong những khu Công nghiệp phát triển của tỉnh Lạng Sơn, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Chính phủ, tỉnh Lạng Sơn và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc./.
 


 

Lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn, huyện Lộc Bình, Tập đoàn TKV, tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc chụp ảnh chung với các thế hệ lãnh đạo Công ty than Na Dương.                                                   

                                               HẾT

                             Biên tập và viết ở Hà Nội – Lạng Sơn
                                Tháng 01 đến tháng 3 năm 2014.

Thay lời kết : Trong quá trình biên tập tài liệu và viết loạt bài ( 07 bài) về quá trình 55 năm, xây dựng, chiến đấu, sản xuất và liên tục phát triển của Công ty than Na Dương, tôi có may mắn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cán bộ lãnh đạo công ty qua các thời kỳ như bác Triệu Tùng, bác Nguyễn Văn Vọng, Cử nhân Vũ Phú Huy, Kỹ sư Phạm Đức Thiện, Kỹ sư Lý Văn Lục, Cử  nhân Dương Thị Thúy Nga, Kỹ sư Nguyễn Văn Sinh, Cử nhân Lưu Văn Hưng, anh Bùi Quang Tuynh, anh Đinh Ngọc Thành... và một số cán bộ công nhân của Công ty than Na Dương đã hết sức quan tâm tạo điều kiện, cung cấp thông tin, ảnh, tư liệu. Đồng thời với việc lưu trữ tài liệu của cá nhân từ năm 1986 đến 2014 về than Na Dương, tôi đã hoàn thành loạt bài này và coi đây là món quà của mình kính tặng các thế hệ cán bộ, công nhân Công ty than Na Dương qua các thời kỳ. Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do khối lượng tài liệu nhiều, trình độ và khả năng còn hạn chế nên có thể còn có sai sót, mong được bạn đọc góp ý bổ sung.
                             Trân trọng !

                                                                                    Nhà báo Nguyễn Quang Tình

Số lượt đọc: 3046 - Cập nhật lần cuối: 01:28 | 26/03/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ