Than Na Dương dấu ấn 55 năm xây dựng và phát triển



55 năm xây dựng và phát triển, Công ty TNHH MTV Than Na Dương (Than Na Dương) đơn vị thành viên của Tổng công ty CN mỏ Việt Bắc đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Tuy nhiên, dù ở giai đoạn nào, hoàn cảnh lịch sử nào, CBNV-LĐ Than Na Dương đều vượt qua những khó khăn, thách thức khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, quốc phòng của tỉnh Lạng Sơn và sự phát triển của ngành Than – Khoáng sản Việt Nam.

    Trang sử vẻ vang

Ngày 21/3/1959, Mỏ than Na Dương được thành lập với nhiệm vụ chính là cung cấp than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, phục vụ công cuộc tái thiết đất nước. Than Na Dương là loại than ngọn lửa dài, có nồng độ lưu huỳnh cao nên chỉ có thể dùng cho các nhà máy sản xuất xi măng theo công nghệ ướt và cho các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn vì thế mà Than Na Dương có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự vận hành của các nhà máy xi măng Hải Phòng lúc bấy giờ. Có thể nói rằng, thời kỳ đầu đi vào sản xuất, Than Na Dương bộn bề khó khăn. Từ hạ moong để khai thác khi công nghệ khai thác còn thô sơ, lạc hậu, cho đến vận chuyển than càng khó khăn hơn do đặc tính dễ bốc cháy... Thế nhưng, dù khó khăn hay gian khổ đến đâu, CBCNV mỏ than Na Dương luôn gắng vượt qua. Đặc biệt, Than Na Dương có địa bàn rất phức tạp, không những sát vùng biên giới phía Bắc mà còn là nơi có nhiều dân tộc sinh sống. Những yếu tố này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến Than Na Dương trong một thời gian dài…  Tuy nhiên, trong khó khăn, người thợ mỏ Than Na Dương càng thể hiện bản lĩnh kiên cường, tinh thần kỷ luật - đồng tâm. Bằng những việc làm thực tế trong lao động và đấu tranh chống giặc ngoại xâm, Than Na Dương đã góp phần triệt phá được âm mưu của địch, xây dựng được lòng tin cho nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn. Ngay trong giai đoạn này, Mỏ than Na Dương đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.

Những dấu ấn của đơn vị anh hùng

Mỗi chặng đường lịch sử, Than Na Dương đều ghi những dấu ấn cho riêng mình.
Từ những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, Mỏ than Na Dương đã được xác định là một trong những công trình đầu tư trọng điểm của Nhà nước, được các bộ, ngành quan tâm và đặc biệt là các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã giúp đỡ thiết kế, lắp đặt sử dụng các thiết bị hiện đại công suất lớn. Nhằm đáp ứng nhu cầu than ngày một tăng trong khi việc khai thác ngày càng khó khăn gấp 2 đến 3 lần, một mặt, Mỏ mở rộng khai trường, mặt khác, tuyển dụng lao động và tăng cường đầu tư thiết bị cho Mỏ. Lúc này, CBCNV của Mỏ cũng được tăng cường lên đến trên 2 nghìn người cùng hàng trăm các loại xe như Komatsu, Kamaz, Kpaz... Trong 10 năm, từ năm 1980 đến năm 1990, than tiêu thụ của Mỏ vượt qua ngưỡng 130 nghìn tấn. Đây được coi là thời hoàng kim nhất của Than Na Dương.  
     Vào thập kỷ 90, Nhà máy Xi măng Hải Phòng và tiếp theo là Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn chuyển sang công nghệ mới theo phương pháp khô. Điều này đồng nghĩa với việc không dùng đến than Na Dương cho sản xuất xi măng. Sự chuyển đổi, nâng cấp về công nghệ sản xuất xi măng đã tạo nên bước ngoặt cho ngành công nghiệp xi măng, song lại đẩy mỏ than Na Dương đến nguy cơ phải đóng cửa. Nhằm giải quyết khó khăn cho mỏ than Na Dương, lãnh đạo Công ty Than Nội địa - nay là Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc (VVMI) đã quyết định xây dựng Nhà máy xi măng La Hiên để giải quyết số lượng lớn lao động của Mỏ than Na Dương. Chính giai đoạn này là tiền đề cho chiến lược “Phát triển sản xuất kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than” của Công ty Than Nội địa. Một nhà máy xi măng cũng chưa thể cứu vãn được tình thế của Mỏ than Na Dương lúc bấy giờ. Trước nguy cơ phải đóng cửa Mỏ than Na Dương, hàng ngàn lao động sẽ mất việc làm, kinh tế - xã hội của một tỉnh sẽ bị ảnh hưởng, Công ty Than Nội địa và Tổng công ty Than Việt Nam đã mạnh dạn lập đề án xây dựng một nhà máy nhiệt điện sử dụng than có nồng độ lưu huỳnh cao tại Na Dương. Đề án được sự ủng hộ mạnh mẽ của Chính phủ, của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Lạng Sơn. Dự án Nhà máy Nhiệt điện Na Dương được Chính phủ phê duyệt với tổng mức đầu tư 124 triệu USD và được khởi công vào quý II/2002 và đến cuối năm 2004, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương chính thức phát điện thương phẩm. Cùng với đó, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cũng phê duyệt Dự án đầu tư mở rộng mỏ than Na Dương để cung cấp đủ nguồn than cho sản xuất điện. Tính ra mỗi năm, mỏ than Na Dương cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Na Dương gần 600.000 tấn than sạch.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng với việc sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy, Than Na Dương đã từng bước hoàn thiện các quy chế quản lý, qua đó, các chỉ tiêu kinh tế hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch. Năm 2012, bốc xúc và vận chuyển 6.657 m3 đất đá, khai thác 559.008 tấn than nguyên khai, tiêu thụ 505.828 tấn than sạch. Về doanh thu, năm 2013, thực hiện 430,4 tỷ đồng, bằng 109,1% kế hoạch và bằng 172% so với năm 2009, bình quân mỗi năm tăng 14,4 %. Năm 2013, nộp ngân sách Nhà nước đạt 52,59 tỷ đồng, bằng 259% so với năm 2009, bình quân nộp ngân sách mỗi năm tăng 31,8%. Lương bình quân lương của người lao động năm 2013 đạt 6.346 nghìn đồng/người/tháng, bằng 105,6% kế hoạch năm và bằng 114% so với thực hiện của năm 2012.


Viết  tiếp trang sử vẻ vang

Danh hiệu Anh hùng lực lư­ợng vũ trang Nhân dân, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Ba, Huân chương Lao động, Huân chương Chiến công, Huân chư­ơng bảo vệ Tổ quốc và nhiều phần thưởng cao quý khác là minh chứng cho một trang sử hào hùng, với bản lĩnh, trí tuệ và khí phách của đội ngũ cán bộ, công nhân Than Na Dương anh dũng trong chiến đấu, cần cù, sáng tạo trong lao động.
Hiện nay, ngành Than đẩy mạnh tái cơ cấu, theo đó, Than Na Dương tiếp tục củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức hiện có theo hướng gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; Phát triển nguồn nhân, đặc biệt chú trọng bổ sung và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật, đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, thành thạo công nghệ và thiết bị mới; Tập trung khai thác mọi nguồn lực về vốn, công nghệ và nhân lực để đầu tư dự án “Đầu tư mở rộng nâng công suất Mỏ than Na Dương từ 600 nghìn tấn lên 1.200 nghìn tấn vào năm 2018 để cung cấp đủ than cho Nhà máy Nhiệt điện Na Dương mở rộng, công suất 100 MW. Đồng thời, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế quản lý nội bộ; tăng cường công tác khoán và quản trị chi phí giá thành; đổi mới cơ cấu lao động hợp lý nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đồng thời hạ giá thành sản phẩm để đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.



Thấm nhuần lời dạy của Bác dành cho cán bộ công nhân ngành Than, 55 năm qua, Than Na Dương đã và đang tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH đất nước.

Số lượt đọc: 3046 - Cập nhật lần cuối: 01:14 | 26/03/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ