Hành hương dọc đường đất nước

    Ghi chép của Vũ Thảo Ngọc

         Chuyến đi ngẫu hứng, không chuẩn bị gì, ngoài mấy lời nhắn gọi giờ giấc đón nhau của nhóm bạn. Năm anh chị em lên xe vào buổi sáng 29/4/2013, dọc đường những con phố như còn ngái ngủ men theo những tán cây bằng lăng, phượng vỹ đang thả những chùm hoa đầu mùa. Chị bạn nói cứ đi thẳng theo đường số một, tôi định bụng hỏi tại sao không đi đường mới Hồ Chí Minh cho nhanh, nhưng lại thôi, vì mới đầu giờ sáng hỏi lằng nhằng phiền hà nên nín luôn. Nhìn chị bạn điềm tĩnh lái xe, thủng thẳng chuyện trò khiến tôi cũng tan luôn cái sự ...phân vân ấy. Tôi cũng không hiểu sao chị bạn chủ xe lại chọn con đường đi qua nhiều khu vực thành thị đông đúc đó, hóa ra, tới địa bàn tỉnh Thanh Hóa thì dừng lại và điểm dừng chân đầu tiên chính là Nghĩa trang Hàm Rồng. Một nghĩa trang có hình ảnh tượng đài khá ấn tượng với tôi, nó như hai cánh tay vạm vỡ giơ ngang bầu trời xứ Thanh rộng dài, hình ảnh được cách điệu là chiếc lá dừa-biểu tượng của xứ dừa Thanh Hóa- và lại chợt nhận ra hình ảnh này ở tượng đài bên cây cầu Hiền Lương lịch sử ở Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị.
   Xứ sở và hình những người lính ngã xuống, cống hiến máu xương vì nền độc lập dân tộc thật khó nói thành lời. Ở nghĩa trang Hàm Rồng, bạt ngàn những ngôi mộ của người lính từ khắp các mặt trận đổ về, trong đó có hai khu mộ tập thể không có tên người vừa được quy tập từ nước bạn Lào về năm 2010. Chúng tôi thắp những nén hương thành kính tưởng nhớ các anh. Không chỉ riêng chúng tôi mà khá đông các đoàn gia đình có thân nhân nằm ở đây đến viếng nghĩa trang. Thực ra ban đầu tôi cũng chỉ nghĩ ai có thân nhân mới đến nhưng không hẳn là thế, đến các nghĩa trang sau có rất nhiều đoàn đều đi theo tinh thần của “ uống nước nhớ nguồn”, đến nghĩa trang là đến với tâm linh vì nghĩa hy sinh vô giá của những người đã ngã xuống vì nền hòa bình độc lập của dân tộc.
    Đến thành phố Vinh chúng tôi không quên ghé vào thắp hương ở nghĩa trang liệt sĩ thành phố rồi xuôi đường quốc lộ Một mà rẽ ngã ba Đồng Lộc. Trong dòng người đổ về nơi đây để tưởng nhớ mười liệt nữ hy sinh ở trọng điểm chiến trường ác liệt này.  Có một điều kỳ lạ là, đoàn chúng tôi lại cùng nhập với hai đoàn khác để nghe hướng dẫn do sự sắp xếp của ban tổ chức khu tưởng niệm, tình cờ gia đình chúng tôi từ Hà Nội đến, một gia đình đến từ Hải Phòng, và đoàn cán bộ, nhân viên của Công ty vàng bạc đá quý thành phố Hồ Chí Minh. Khi anh hướng dẫn viên đọc tên ba đoàn cùng vào nghe hướng dẫn, chúng tôi cùng xúc động dâng trào về ba miền đất nước bỗng hội tụ nơi đây như một dải non sông vẹn toàn về để thành kính dâng lên các liệt nữ những nén tâm nhang ân tình.
   Cũng như khi vào tới Thành cổ Quảng Trị, khi nhân viên tại đây sắp xếp các đoàn khách để hướng dẫn thì chúng tôi lại đi cùng với đoàn thợ mỏ của Phân xưởng vận tải 4 Công ty than Mông Dương (Quảng Ninh). Không chỉ ở đây, mà khi chúng tôi tới nghĩa trang Trường Sơn thì lại gặp họ cùng vừa tới dâng hương. Hành trình của chúng tôi chỉ đi các nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nghĩa trang Đường 9 và thành cổ Quảng Trị, vì thế, vừa rời nơi này sang nơi kia thì chúng tôi vẫn nhập vào dòng người đông đảo lạ mà quen đó về dâng hương các anh hùng liệt sĩ. Lòng ai cũng dâng trào cảm xúc không thể nói thành lời, và hình như cùng chung một cảm xúc trào dâng đó là niềm thành kính, niềm xúc động tột bậc về những người lính đã ngã xuống cho quê hương giành độc lập dân tộc và nền hòa bình vững chãi.
   Một điều lạ tôi gặp ở nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn hình ảnh thân thương biết mấy khi có một nhóm các bạn trẻ lắm, họ đi “phượt” bằng xe máy, mũ tai bèo xanh mềm nhỏ, khăn rằn quấn ngang vai không che nổi cái nắng giữa trưa nhưng vẫn mải miết đốt hương, nhóm này thì châm hương-cả một balo hương- và nhóm khác chia nhau đi cắm hương lên các ngôi mộ trong nghĩa trang. Hãy thử hình dung hàng chục ngàn ngôi mộ, với mấy mươi tỉnh thành được chia lô, chia khu...giữa cái nắng Trường Sơn rực lửa, họ vẫn mải miết làm như không có chuyện gì. Ở một góc nghĩa trang khu tỉnh Hải Hưng cũ là Hải Dương và Hưng Yên bây giờ cũng có mấy gia đình trẻ đang làm công việc tương tự. Điều này tôi thấy lạ, vì hơn mười lăm năm trước tôi có dịp đã đến đây, nhưng hình ảnh này không thấy có. Chỉ gặp những đoàn đi hành hương thuộc các cơ quan đoàn thể tổ chức đi với một hình thức mang tính chất đoàn thể làm nhiệm vụ chính trị là chính, tất nhiên người nào người nấy trong đoàn đã vội vàng chạy đến những khu vực tỉnh thành của mình để  được thắp nén nhang cho những liệt sĩ...đồng hương và may ra tìm được người nào cùng làng, cùng xã, cùng huyện để về thông báo cho gia đình họ. Chính tôi cũng đã ghi được tên hơn mười liệt sĩ cùng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, khi về tôi đưa cho ông anh là một cựu binh đang công tác ở bệnh viện huyện và nói rằng, anh cứ nhắn tin chia sẻ với các anh chị ở cơ quan, biết đâu, lại là thông tin tốt cho họ. May sao trong số tên liệt sĩ tôi ghi đó lại có ông cậu họ tên là Lê Duy Nghĩa mà gia đình mợ tôi đang đi tìm. Sau khi nhận thông tin thì gia đình đã nhanh chóng thu xếp vào nghĩa trang Trường Sơn để ... xin cho cậu về quê!  Hôm nay, sau hơn mười năm quay lại, vẫn những bia mộ xếp hàng bên nhau, chắc có nhiều gia đình như cậu họ tôi đã về quê cha, nhưng còn nhiều gia đình với nhiều lý do, người thân vẫn nằm lại nơi đây cùng đồng đội giữa rừng Trường Sơn gió lộng này. Cầu cho các anh yên nghỉ và siêu thoát vì nền hòa bình, độc lập dân tộc.
     Rời nghĩa trang Trường Sơn,chúng tôi về nghĩa trang đường 9, cũng bạt ngàn những bia mộ chỉ vỏn vẹn mấy dòng ; “liệt sĩ chưa biết tên”, chỉ nhìn mấy chữ đó thôi mắt ai cũng cay xè. Ở nghĩa trang đường 9 bất ngờ tôi gặp hàng mấy chục mộ chí có tên của những liệt sĩ người Hoa kiều hy sinh năm 1972 – tất cả đều có địa chỉ ở khu vực Móng Cái, Tiên Yên, Đầm Hà (tỉnh Quảng Ninh) ... những cái tên gắn liền địa danh này gợi nhớ cho tôi những ý nghĩ miên man về hành trình giải phóng thống nhất đất nước với biết bao điều trăn trở.
   Về nghĩa trang xã Triệu Đông thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị-nơi mà năm nào gia đình chị bạn cũng về đây - nơi ông chú ruột của chồng đã hy sinh khi mới ngoài hai mươi tuổi trong cuộc kháng chiến  chống Pháp. Ông hoạt động nằm vùng nơi đây và khi địch càn vào làng, ông đã bị chúng truy đuổi đến cùng và bắn chết rồi đem mang xác phơi ngoài chợ xã. Du kích xã đã cướp xác ông đem về chôn giấu cẩn thận, năm đó là năm 1947. Câu chuyện đau lòng đó diễn ra ở mảnh đất này và đến chính nơi đây chị bạn mới kể ngọn ngành về hành trình tìm mộ ông cụ cũng là hành trình đặc biệt. Gia đình đi tìm như mò kim đáy bể và tình cờ tìm được đồng đội của ông, vì thế mới biết tường tận sự hy sinh của ông. Và quan trọng hơn cả là đích xác nơi mộ ông được táng ở đâu, khi tới nơi đây mới biết mộ ông được đồng đội giấu rất kỹ trong khi địch vây ráp khắp làng trên xóm dưới, khi hòa bình thì phải di dời  khi bị nước lụt đưa lên núi, khi được quy tập về nghĩa trang thì về ruộng... Năm lần bảy lượt với tâm niệm tìm bằng được để cho ông bố chồng yên tâm nhắm mắt khi đã lấy được nắm xương tàn của người em ruột hy sinh non nửa thế kỷ chưa tìm được. Khi gia đình chị bạn tìm ra được mộ ông chú, mọi lễ nghi đã được tiến hành để xin đưa cụ về nghĩa trang quê nhà, cha chồng chị đã khóc em như trẻ nhỏ! Nhưng dù đã đưa cụ về thì năm nào gia đình chị vẫn giữ lệ trở lại Triệu Đông để thắp hương nơi cụ hy sinh mà không chỉ cho ông cụ nhà mình mà cho cả những đồng đội ông nằm đây, những bia mộ chỉ có dòng chữ:  “liệt sĩ chưa biết tên”! Đọc những bia mộ có đầy đủ danh tính mới biết ở đây toàn là du kích quân, bộ đội chủ lực chiến đấu trên mảnh đất này có năm sinh từ năm 1918 đến 1948, có một nữ liệt sĩ trên tổng số hơn hai trăm ngôi mộ có tên và không tên. Gia đình chị bạn đã đưa ông trẻ về quê Hà Trung - Thanh Hóa- nhưng từ khi đưa cụ về nghĩa trang quê nhà thì năm nào cũng thế, gia đình chị bạn vẫn hành hương vào viếng cụ tại nơi cụ hy sinh và để thắp hương cho đồng đội của cụ. Là nghĩa trang xã nên cũng không có nhiều hương hoa như ở những nơi tập trung kia mà chủ yếu là bà con trong xã ra hương khói cho liệt sĩ nhân các ngày lễ lạt là chính. Vì vậy, nhìn toàn cảnh nghĩa trang nhỏ gọn nằm dưới những tán cây xà cừ xanh ngắt lòng ai cũng dâng lên những cảm xúc riêng, bời bời ngọn cỏ mong manh bên chân bức tường của nghĩa trang do Ngân hàng công thương Việt Nam xây tặng năm 2007 bây giờ đã mờ mờ dấu rêu.
    Chuyến đi trong tiết trời nắng đầu mùa găn gắt, trời Quảng Trị như xanh hơn, cao hơn, dòng Thạch Hãn vẫn lững lờ trôi dưới nắng trưa. Lại một lần chúng tôi ngưng lại và hình dung về lá thư trưng bày trong Bảo tàng thành cổ của người lính viết cho vợ hướng dẫn đường đi tìm chồng sẽ...hy sinh! Chao ôi, những dòng chữ đẹp, thẳng thắn, ấm áp tình cảm cha con, vợ chồng, sự chuẩn bị cho mình sẽ...hy sinh sao mà đau xót, sao mà day dứt! Lời người lính dặn dò vợ sẽ đi tìm chồng như thế nào, về đường đi đến nơi mình ngã xuống ra sao, đi từ đâu tới đâu...nhìn những dòng chữ, những lời lẽ ấy không ai cầm nổi giọt nước mắt mặn chát cứ tự nhiên tuôn rơi...
    Chao ôi, có ở đâu trên trái đất này có những câu chuyện lạ lùng như thế không, niềm lạc quan về sự hy sinh của mình cho hòa bình dân tộc cao đẹp đến thế là cùng, không băn khoăn, không so bì, không nuối tiếc...như một bản hùng ca viết từ lòng đất, về dân tộc kiên cường trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Mỗi chuyến đi dọc chiều dài đất nước ta lại càng thấy cuộc sống trong hòa bình độc lập dân tộc muôn vàn ý nghĩa sâu sa. Với mỗi sự hy sinh đều làm cho chúng ta những người được sống trong trong hòa bình hôm nay luôn luôn dâng trào những niềm thiêng liêng sâu thẳm....

                                                        Bài của Vũ Thảo Ngọc
                                                  Ảnh của Nguyễn Quang Tình
                                                                  




 

Số lượt đọc: 3609 - Cập nhật lần cuối: 03:03 | 26/07/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ