Nhẹ bước dưới trời Côn Đảo.,

                                                         Bút ký của Vũ Thảo Ngọc

    Mùa hè này chúng tôi quyết định đi Côn Đảo, nơi được coi là địa ngục trần gian - nơi mà cả hai  đế quốc Pháp và Mỹ đã giam cầm, tra tấn dã man những người yêu nước, những nhà chí sĩ hoạt động cách mạng...
      Sau chặng đường dài đến Côn Đảo, ai cũng hồi hộp với những thông tin mà mình đã đọc, đã nghe từ thuở học trò, những tiểu thuyết của các nhà văn đã viết về nơi “địa ngục trần gian” này như Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Bất khuất của cựu tù nhân Côn Đảo - Nguyễn Đức Thuận...
    Hòn đảo xinh đẹp hiện ra dưới cánh bay, cánh rừng dương xanh ngắt như không thể xanh hơn...Hình ảnh những người tù cộng sản, những người yêu nước bị đày đọa ở những “chuồng cọp”, những kiểu hành hình của thời trung cổ, những câu chuyện vượt ngục của những người tù ở đây...giờ được tận mắt chứng kiến mới thấy sự xả thân vì cách mạng giải phóng dân tộc của các bậc tiền nhân thật không gì so sánh.
   Cách đây mấy năm, tôi có đã có dịp làm tập thơ của các cựu tù Côn Đảo tỉnh Quảng Ninh, gặp được mấy bác đã già yếu lắm, có nhiều bác không thể đi xa ra khỏi nhà, ốm đau nhiều do đòn thù, chỉ còn bác Phạm Anh Tuấn và bác Đinh Văn Nhạ là có thể đi lại và tha thiết đề nghị Hội Văn học nghệ thuật tỉnh giúp làm cho các bác một cuốn thơ cho Câu lạc bộ cựu tù Côn Đảo tại Quảng Ninh. Tôi đã rất xúc động khi gặp các bác, được nghe những câu chuyện từ các bác trong những ngày ở chốn lao tù này và họ đã trở về như muôn vàn những người cộng sản chân chính....
Từ Nghĩa trang Hàng Dương không có bia mộ dưới cánh rừng.
      Khi chúng tôi đặt chân lên hòn đảo xinh đẹp giữa mùa hè nắng lửa, nghĩa trang Hàng Dương, giữa rừng dương nên có tên như thế chỉ thấy cánh rừng xanh ngắt vi vu gió thổi. Nhưng, đó chính là nghĩa trang khổng lồ là cánh rừng bạt ngàn gió thổi đó! Nghe như mênh mang đâu đó mà không mường tượng ra sao nghĩa trang lại nằm dưới cánh rừng xanh mướt kia. Sau khi tìm hiểu, tôi mới biết, do có quá nhiều tù nhân nơi đây đã hy sinh trong điều kiện khắc nghiệt thời tiết, về những biến cố cụ thể trong từng thời điểm khác nhau mà không có người chôn cất nên họ đã hóa vào mảnh đất này để cho hàng dương ngày ngày rì rào tiếng gió.  Những lớp tù này đến lớp tù khác đã đã không kịp trở về đất liền như khát vọng mà họ mang theo do chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc. Con đường độc đạo quanh đảo bây giờ mềm mại như dải lụa mấy ai biết những tù nhân thời thuộc Pháp đã bị đày đọa cực hình với công việc khổ sai như đào đá, san đường trong điều kiện cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc... Chính trong môi trường làm việc cực hình đó, nhiều nhóm tù nhân đã tổ chức vượt đảo, nhưng có nhiều lượt, nhiều nhóm tù nhân đã bất thành giấc mộng vượt đảo và đương nhiên họ bị cai ngục bắt lại tra tấn thảm khốc hơn. Có những nhóm tù nhân do không có kinh nghiệm phán đoán về thời tiết nên vừa lên bè để trốn thì bị những cơn gió chướng hất ngược trở lại đảo và một phần họ đã rơi vào tay bọn cai ngục, số này lập tức bị giam kín và bị tra tấn không thương tiếc. Một phần nữa họ bị gió, sóng biển dữ dằn thổi tan vào lòng đại dương, và dạt vào bờ đảo và vĩnh viễn nằm lại ở chân rừng dương đã có từ ngàn đời này...Những câu chuyện ly kỳ của các cựu tù Côn Đảo vượt ngục thì nhiều lắm, mỗi câu chuyện đều chứa đựng tinh thần bất khuất của các bậc tiền nhân. Giữa bạt ngàn sắc xanh của rừng dương là khu nghĩa trang cũng khác hẳn những nghĩa trang thông thường khác, khu nghĩa trang có mộ chí, những ngôi mộ chí nằm cạnh nhau không theo hướng nào và ngôi có tên, ngôi không có tên! Lần theo những con đường nhỏ len lỏi giữa khu nghĩa trang rộng lớn, những cây dương già, cây dương trẻ mọc lan man là những ngôi mộ nằm im lìm ở đó. Cảm giác như chân ta không muốn bước, muốn dẫm lên từng tấc đất nơi đây, vì theo anh hướng dẫn của khu nghĩa trang, mỗi tấc đất nơi đây không chỉ dầy một phân mà là sự chồng chất những máu thịt của các cựu tù Côn Đảo đã ngã xuống trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của đất nước. Trong khu nghĩa trang này, tôi đã tới viếng mộ chí của đồng chí Vũ Văn Hiếu, người bạn tù đã nhường áo cho bạn vì biết mình sẽ không qua được để đồng chí mình được ấm áp hơn trong những ngày chiến đấu gian khổ đó.
  Đêm 17/1/1940, tại cơ quan Vũ Văn Hiếu đã bị bọn mật thám bắt cùng Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Vũ Văn Tấn. Suy nghĩ đến trách nhiệm bảo vệ đảng, nhất là bảo vệ các đồng chí chủ chốt, Vũ Văn Hiếu đã kịp nhắn cho Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn trước khi bị giam vào bốt Catina: 'Tôi đã nhận tài liệu địch lấy được là của tôi, địch có đánh thì tôi chịu. Các đồng chí cứ chối hết đi. Tôi chịu đòn, chịu chết thay cho các đồng chí để các đồng chí sống mà hoạt động cho đảng'. Đầu năm 1941, Vũ Văn Hiếu lại bị thực dân Pháp đầy ra Côn Đảo lần thứ hai, giam cùng Lê Duẩn, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Tạo,...Chúng bắt các chiến sĩ cách mạng ở trần truồng, ăn uống cơ cực, kèm với roi vọt, tra tấn và bệnh tật. Lê Duẩn kể lại anh Hiếu bị ho lao, anh em xin được một bộ quần áo cho mặc. Một hôm đồng chí Hiếu nằm cạnh tôi nói: 'Tôi không sống được nữa. Tôi đang nghĩ có cách gì làm lợi cho đảng mà mà nghĩ mãi không ra. Giờ chỉ có cách tôi đưa bộ quần áo này cho đồng chí mặc để đồng chí sống mà hoạt động cho đảng'. Hôm sau Hiếu chết, trong những giờ phút cuối cùng của đời mình, bệnh tật dày vò đau khổ, Vũ Văn Hiếu người đảng viên cộng sản ấy vẫn nghĩ đến đảng, vẫn nghĩ cách làm lợi cho đảng. Đó thật là một tấm gương cho chúng ta!!!!. Câu: 'Chết còn trút áo cho nhau. Miếng cơm dành để người sau ấm lòng', nhà thơ Tố Hữu viết về chiến sĩ cộng sản Vũ Văn Hiếu.
Câu chuyện cảm động giữa đồng chí Vũ Văn Hiếu và đồng chí của mình đã lưu lại tâm trí mỗi người một niềm tâm cảm sâu sắc về tình đồng chí, nghĩa anh em. Đồng chí Vũ Văn Hiếu nguyên là Bí thư Khu ủy khu mỏ đầu tiên đã bị giặc Pháp lưu đầy ra chốn “địa ngục trần gian” này và đồng chí đã kiên trung anh dũng trước đòn thù bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ được phong trào mà mình đang là người dẫn dắt... Bây giờ, ở thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh) có trường THPT Vũ Văn Hiếu, có đường Vũ Văn Hiếu...hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên trung của đồng chí đã thấm sâu vào lớp lớp các thế hệ thợ mỏ. Là tấm gương giáo dục cách mạng cho muôn đời sau, chiều nay, giữa nghĩa trang Hàng dương, tôi không khỏi bùi ngùi về người chiến sĩ cách mạng ấy. Một điều lạ, giữa muôn vàn bia mộ có tên và không tên đó, những ngôi mộ đều như nhau, họ nằm bên nhau thanh thản như khi ở trong nhà lao của bọn thực dân đế quốc, thanh thản giữa mùa hòa bình tự do của dân tộc. Một niềm cảm xúc trào dâng, từng đoàn hành hương đều lẳng lặng bước từng bước khẽ khàng bên những lối mòn lá phủ ngập ấy.
  Và tình cờ, trong đoàn có hai người bạn đều nhận được điện thoại gia đình nói rằng, ông ngoại bên mình, ông ngoại bên vợ, các cụ đã từng bị lưu đày ở nơi đây và đã mất ở đây, nhưng không có mộ chí, nếu có thể thì nên thắp hương và thưa với các cụ rằng có các cháu của mình đã đến đây! Nghe mà xót xa, một trong hai người bạn ấy kể, gia đình chỉ biết ông cố ngoại hoạt động bí mật ở Hải Phòng, bị Pháp bắt và đưa đi lưu đầy Côn Đảo ngay thời điểm đó, quãng năm 1929-1930. Cho đến sau giải phóng miền Nam, có một ông Việt kiều ở bên Pháp về quê có nói cho gia đình biết, ngày ấy, tháng ấy ông có ở tù cùng ông cụ nhà mình, nhưng ông cụ nhà mình thì không vượt ngục được, còn ông bạn kia vượt ngục và đã xa quê hương cả nửa thế kỷ...Câu chuyện chỉ râm ran thế, với rất nhiều lý do mà gia đình không thể đi tìm cha, tìm ông mình...Anh bạn rưng rưng dâng hương và quay cả bốn phương tám hướng giữa nghĩa trang Hàng dương cầu cho anh linh cụ được siêu thoát!
Đến địa ngục trần gian và người liệt nữ anh hùng
    Chúng tôi đã đi tham quan cả hai khu nhà tù thời Pháp và thời Mỹ, những căn nhà dài nối tiếp nhau để nhốt tù chỉ nhìn thôi đã thấy sợ, một hệ thống nhà tù nối tiếp nhau với những bức tường đá kiên cố, những hàng rào thép gai dựng lên tua tủa. Chợt nghĩ, các bậc tiền nhân vẫn nghĩ ra bao nhiêu kế sách, mưu mẹo để thực dân Pháp  không khuất phục được ý chí cách mạng kiên cường của hàng ngàn tù nhân như thế, thật là sức mạnh ý chí kiên cường vô song. Thực dân Pháp xây những boong ke nhỏ xíu chỉ đủ cho một người hoặc nằm, hoặc ngồi,  “Chuồng cọp” có hai khu, mỗi khu 60 chuồng và 30 hầm đá, giam giữ trên 400 người, cứ 5 người bị nhốt vào một chuồng có bề ngang 1,45m, dài 2,5m. Anh em phải thay phiên nhau kẻ ngồi, người đứng. Đêm phải thay phiên nhau kẻ thức người ngủ, thường xuyên nằm đè lên nhau như cá mòi xếp hộp! Những boong ke này đã được đế quốc Mỹ “tiếp thu” và phát triển hệ thống “chuồng cọp” để nhốt tù, rồi dùng các hình thức như đổ vôi bột từ trên xuống, cầm sào gỗ đầu nhọn chọc tía lia xuống thân thể tù nhân, dùng vôi bột; nước nóng...từ bên trên đổ xuống tù nhân! Tù nhân ở trong những chuồng cọp chật chội ấy không ai không thoát khỏi đòn thù tàn bạo, dã man của cai ngục, và họ đã bị vôi bột, nước sôi làm cho bỏng thân thể, những vết thương không thuốc men đã nhanh chóng hành hạ và làm cho sức họ tàn tạ nhanh chóng....Tất cả những người có mặt tham quan đều thốt lên hai chữ “trời ơi dã man quá”, và đều vô cùng sửng sốt, ngưỡng mộ vì sự hi sinh cao cả của những bậc tiền nhân đã ngã xuống vì nền hòa bình độc lập dân tộc, là công cuộc giải phóng khỏi ách nộ lệ hơn 80 năm của thực dân Pháp và hơn hai mươi năm của đế quốc Mỹ...
   Mỗi người một ý nghĩ, nhưng tựu trung đều dâng trào niềm xúc động vô bờ bến của thế hệ hôm nay với thế hệ cha anh đã ngã xuống cho chúng ta được hưởng nền hòa bình, độc lập dân tộc như ngày hôm nay.
  Trên hòn đảo “địa ngục trần gian” này, hình ảnh vô cùng linh thiêng và ám ảnh đó là người con gái miền đất đỏ- Liệt sĩ Anh hùng Võ Thị Sáu, chị đã làm nên một bài ca bất hủ về ý chí của những người cách mạng. Chính vì thế mà giữa tuổi đôi mươi đẹp nhất của cuộc đời con người, chị bị giặc Pháp đưa ra pháp trường, chị vẫn hô vang những lời lẽ đanh thép khiến cho quan tòa của thực dân phải sửng sốt. Theo nguồn tư liệu tại khu Di tích nhà tù Côn Đảo ghi lại phiên tòa đó như sau: khi nghe tòa phán tội, chị Võ Thị Sáu đã đanh thép trả lời tòa:
 “ Yêu nước chống bọn thực dân xâm lược không phải là tội”. Và khi tên quan toà rung chuông ngắt lời chị để tuyên án: “ Tử hình, tịch thu toàn bộ tài sản”, chị đã thét vào mặt y: “ Tao còn mấy thùng rác ở Khám Chí Hoà, tụi bây vô mà tịch thu!”. Tiếp đó là tiếng hô: “Đả đảo thực dân Pháp, Kháng chiến nhất định thắng lợi”.Thực dân pháp muốn giết chết ngay người con gái đáng sợ này, nhưng không dám thực hiện bản án tử hình đối với người chưa đến tuổi thành niên. Chúng phải tiếp tục giam chị ở Khám Chí Hoà và rồi đưa ra Côn Đảo.
Ngày 23/1/1952, chúng thi hành bản án, bắn chết chị sau hai ngày chúng đưa chị ra Côn Đảo ở ngoài một hòn đảo xa đất liền. Biết sắp bị hành hình, suốt đêm 22/1/1952, chị đã hát những bài ca cách mạng mà chị đã thuộc từ lâu như: “ Lên đàng”, “ Tiến quân ca”, “ Cùng nhau đi hùng binh” …Bốn giờ sáng ngày 23/1/1952, sau khi tên chánh án làm thủ tục thi hành án, viên cố đạo liền lên tiếng: “ Bây giờ cha rửa tội cho con”. Chị gạt phắt lời viên cha cố: “ Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới là có tội…”. Ông ta kiên nhẫn thuyết phục: “Trước khi chết, con có điều gì ân hận không?”. Chị nhìn thẳng vào mặt ông ta và mặt tên chánh án, trả lời: “ Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước”.
Đã được mật báo về hành động anh hùng của chị Võ Thị Sáu và cả ngày giờ giặc Pháp hành hình chị - một nữ tù đầu tiên và duy nhất ở côn đảo từ trước tới thời điểm này. Hàng ngàn trái tim những người tù chính trị từ banh I đến banh II đã thổn thức suốt đêm. Khi lắng nghe thấy bước chân bọn đao phủ giải chị Sáu đến nơi hành hình, tất cả anh em cùng đứng dậy hát vang bài Chiến sĩ ca- bài hát thời ấy dành để bày tỏ lòng cảm phục, tiếc thương và tiễn đưa những người đồng đội ra pháp trường. Ra đến pháp trường, tên chánh án hỏi chị: “ Còn yêu cầu gì trước khi chết?”. Chị nói: “ Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người”.Nói xong, chị bắt đầu cất cao tiếng hát, chị hát bài Tiến quân ca. Giọng hát của người con gái Đất Đỏ lúc này thiết tha bay bổng, say sưa át cả tiếng tên chánh án đọc lệnh thi hành án tử hình. Khi tên chỉ huy ra lệnh cho bọn lính chuẩn bị nổ súng thì chị lập tức ngưng hát và thét lên: “Đả đảo thực dân Pháp! “ Việt Nam độc lập muôn năm!”. “ Hồ Chủ tịch muôn năm!”.

   Chị Sáu đã hy sinh, nhưng chị để lại trong lòng mỗi người dân Côn Đảo nói riêng và người dân Việt Nam nói chung, lòng ngưỡng mộ một vị anh hùng nhỏ tuổi hồn nhiên, gan dạ, dũng cảm dám đối đầu với kẻ thù và không chịu khuất phục trước những thế lực phản động bán nước và cướp nước....
  Bây giờ, mỗi đoàn khách đến đều nhón chân nhẹ nhàng thăm chị vào giữa khắc giờ linh thiêng của ngày để cầu mong cho chị siêu thoát, cầu mong đất nước đẹp như bài ca chị hát trước khi ra pháp trường....
  Chia tay Côn Đảo, chúng tôi không khỏi bồi hồi về những tấm gương các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống nơi đây, những người có tên, những người chưa tìm thấy tên, những người có mộ chí cũng như chưa có mộ chí...chỉ cầu mong một điều, họ mãi mãi sống cùng dân tộc, cùng non sông gấm vóc này. Họ là những bài ca bất tử cho muôn sau của dân tộc Việt Nam quật cường trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
                                                     
                                                 Nhà văn Vũ Thảo Ngọc
                                                         Tháng 7/2013




 

Số lượt đọc: 3424 - Cập nhật lần cuối: 03:04 | 19/07/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ