NGUYỄN QUANG TÌNH VỚI NGHIỆP “ CHỮ VÀ NGHĨA”


                                                        Nguyễn Quốc Trung
                                                Viện Khoa học công nghệ mỏ
 

Có lẽ trong nghiệp mưu sinh, nghề làm trò với con chữ là đa mang, vất vả nhất. Anh cày ruộng, chị dệt vải, bà bán hàng ... hết ngày, xong việc là thảnh thơi. Dù no, dù đói nhưng tâm an, cạn nghĩ. Gắn với chữ nghĩa là thấy mệt mỏi, bận bịu suốt ngày. Nửa đêm tỉnh dậy, thoắt nhớ đến câu văn viết dở bỗng tỉnh như sáo, tìm chọn được từ như ý, tủm tỉm cười như ma làm. Tội cho mấy ông trót đa mang nghiệp thơ phú, đi đâu cũng lẩm bẩm, thấy ai nói gì cũng hất mặt lên đón ý, chọn vần, như kẻ dở người vậy. Có kẻ độc miệng còn gọi nghề văn là nghề xúc óc ra mà ăn. Nghe thật thảm hại!
Chỉ những năm gần đây, khi mà Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam trở thành một trong những tập đoàn kinh tế vững mạnh của đất nước thì nhiều người mới quan tâm đến công việc và cuộc sống của những người thợ khai thác than và khoáng sản, mới biết được Quảng Ninh không chỉ là điểm du lịch nổi tiếng với Vịnh Hạ Long, đảo Vân Đồn hay Đền Cửa Ông, Chùa Yên Tử mà còn là một bể than quan trọng với hàng chục mỏ và điểm mỏ đã được khai thác từ thời Pháp thuộc. Bên cạnh bể than Đông Bắc nằm chủ yếu trên đất Quảng Ninh thì còn phải kể đến vùng than Việt Bắc trên đất Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang ... Ngoài than, Việt Nam còn rất nhiều mỏ khoáng sản quý hiếm được  phân bổ rải rác, dọc theo đất nước mà để khai thác, chế biến nguồn tài nguyên phong phú này nhằm làm giàu thêm cho Tổ quốc, hơn 140 ngàn công nhân cán bộ ngành Than – Khoáng sản đang ngày đêm miệt mài lao động trên những mỏ lộ thiên hay trong các mỏ hầm lò. Viết về đời sống của công nhân mỏ, trước nay có nhà văn Võ Huy Tâm, với các tác phẩm nổi tiếng như Vùng Mỏ, Mỏ thời Tây, Chiếc cán búa, Trăng bão, Rượu chát hay Hạt trai. Sau này có nhà văn Võ Khắc Nghiêm, một trong những nhà văn nặng lòng với giai cấp công nhân, đặc biệt là công nhân ngành than với hai tác phẩm đạt giải của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam là Huyết thống (giải Nhất giải thưởng Văn học công nhân lần thứ VII, 1995 – 2005) và Mảnh đời của Huệ (giải A). Ngoài ra, còn một số nhà văn, nhà báo gần như gắn cả đời mình với vùng mỏ như Tô Ngọc Hiến,Trần Nhuận Minh, Lý Biên Cương, Sỹ Hồng, Nguyễn Cao Thâm ....
Là một người làm báo khoa học của ngành Than đã lâu năm, đối với vùng than Việt Bắc, tôi quen biết nhà báo Nguyễn Quang Tình cũng được trên chục năm. Dáng vẻ nho nhã, tính tình xởi lởi, dễ dãi, lại được cái phông văn hóa sâu, rộng do được đi nhiều, lại chịu khó quan sát nên khi chuyện trò với Anh hiếm mà dứt ra ngay được bởi chuyện của anh rất phong phú, đa dạng cuốn hút người nghe. Nhà báo Nguyễn Quang Tình đã có nhiều tác phẩm văn xuôi và thơ được đăng trên các tuyển tập Văn, thơ, ký của ngành Than như : “Than Việt Nam, hôm qua, hôm nay và ngày mai” Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2001. Truyện và thơ đăng trong tuyển tập “ Miền đất bỏng” Nhà xuất bản lao động 2009. “ Tập Truyện và ký Trăng rừng” in riêng – Nhà xuất bản Dân trí năm 2012. Ngoài ra các tác phẩm văn xuôi, thơ, ký của anh liên tục đăng trên các báo và tạp chí từ Trung ương đến địa phương như báo Nhân Dân, Tạp chí Văn nghệ, Báo Lao động, Tiền phong, Văn nghệ công nhân, Hà Nội mới, Công Thương, Lao động Thủ đô, Bắc Thái, Thái Nguyên cũng như các báo và tạp chí khác trong ngành Than – Khoáng sản Việt Nam. Là một kỹ sư khai thác mỏ, nhiều năm làm cán bộ quản lý Văn phòng Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc. Công việc bận rộn nhưng từ lâu, Anh đã nặng lòng với nghiệp chữ nghĩa, văn chương. Anh viết nhiều, viết đều tay và về nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là về thiên nhiên, con người. Những nhân vật trong các tác phẩm của Anh rất bình dị, đời thường, từ ông giám đốc, bí thư đảng ủy hay chủ tịch công đoàn đến những người công nhân đang sống và làm việc trên các công trường khai thác than. Mỗi người một tính cách, một số phận nhưng đều chân thực, sống động khiến cho người đọc đều như thấy bóng dáng của chính mình hay của bạn bè, đồng đội ở trong những nhân vật đó.
Trong chuyện viết lách, chữ nghĩa, Nguyễn Quang Tình tỏ ra là người rất có trách nhiệm. Từng câu, từng chữ Anh dùng, trước hết, là phải trong sáng, dễ hiểu, sau nữa là phải hợp cảnh, hợp người. Anh chúa ghét tính cẩu thả, qua quít trong việc dùng từ. Có lần, viết về những người công nhân mỏ đón cái Tết hồi còn khó khăn, Anh viết, “Mấy gia đình công nhân góp gạo và củi luộc chung một nồi bánh chưng và bàn nhau đụng một con lợn ....”. Khi bài viết được đăng, chẳng biết mấy cô biên tập viên sửa sang thế nào mà nó lại được đổi thành “Mấy gia đình bàn nhau đúng một con lợn ....”! Gặp tôi, Anh kêu giời: “Nó giết chết văn của tôi rồi ông ạ!”. Tôi tếu táo trêu : “Ai bảo anh thích dùng đồ cổ lắm vào. Tụi trẻ nó hiểu sao được chuyện chung đụng của người già!”. Nói vậy, để thấy Anh nghiêm túc với nghề như thế nào. Đôi khi, ngồi với Anh nhưng trong ánh nhìn của Anh tôi thấy như sương, như khói, biết là tiếp chuyện tôi nhưng hồn vía Anh vẫn phiêu diêu nơi con chữ. Đọc văn của Anh mới thấy hết cái cực nhọc của nghề. Nhưng đọc văn của Anh thì cũng mới hiểu hết cuộc sống khó khăn, vất vả của người thợ mỏ.
Trao đổi chuyện viết lách với tôi, Nguyễn Quang Tình bảo: “Viết về người công nhân, nhất là công nhân mỏ, có cái dễ nhưng cũng có cái khó riêng. Dễ vì đề tài phong phú, dễ về con người mộc mạc, chân chất, dễ vì câu văn chẳng cần hoa lá, cầu kỳ, ngôn từ bác học, cao siêu gì cả. Tuy nhiên, cái khó là viết sao cho người đọc cảm nhận được những trang viết gần gũi với cuộc sống đời thường của người ta. Điều này cần một vốn sống phong phú, một cái tâm với nghề, và, trước hết, phải yêu thương, chia sẻ với những con người mà mình định viết”. Bài thơ “Gia đình thợ mỏ” Anh viết hồi đầu xuân Quý Tỵ 2013 là một ví dụ như thế. Nội dung dung dị, chân thành, viết về một gia đình công nhân mỏ với hai đứa con thơ, sống một cuộc sống bình dị giữa thiên nhiên “ ... hoa nở đầy khu mỏ, cúc dại vàng rực rỡ, hương cải tràn vào sân ...” đã khiến cho một anh quản đốc khi đọc lên, rưng rưng cảm động vì anh thấy “cả gia đình tôi có trong những câu thơ ấy”. Hay như trong bài thơ “Xóm thợ” mà chỉ qua mấy câu thơ mở đầu, Anh đã “vẽ” lên một xóm của người thợ mỏ mà bất kỳ ai đã từng sống hoặc từng qua đều thấy những nét thân quen. Để rồi, “Tôi lớn lên đã đi xa nhưng vẫn nhớ/Dáng mẹ và em từ cái thuở ban đầu/Dù đã qua nhiều biển rộng, rừng sâu/Nhưng không thể quên được tình yêu ban đầu “ xóm thợ.”
Mấy năm gần đây, cơ quan anh xây dựng lên trang Web nội bộ. Ngay từ ngày đầu đã thấy Anh tham gia nhiệt tình. Trang Văn hóa và Xã hội đều đặn có tên Anh hoặc bút danh của Anh. Nào là Tổng kết, thi đua. Nào là Phóng sự, Tùy bút. Nhưng nổi bật nhất thì phải kể đến góc Truyện – Văn nghệ - Thơ của phần Thư viện trên trang Web. Nói không ngoa, đây chính là “đất” của Quang Tình. Từ Truyện ngắn, Truyện dài đến Tản văn, Ghi chép, Ký .... thể loại nào cũng có ngòi bút của Anh và tác phẩm nào của Anh cũng hay, cũng hấp dẫn. Trong chuyên mục Giới thiệu những bài thơ hay, ngoài việc dẫn dắt người xem đến với những bài thơ Đường nổi tiếng mà tiêu biểu là Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và Khúc giang Nhị thủ của Đỗ Phủ, Anh còn giới thiệu những bài thơ hay của những người thợ mỏ cũng như những bài thơ Anh viết về họ. Đã tham khảo nhiều trang Website của các cơ quan doanh nghiệp trong và ngoài ngành, nhưng tôi thực sự ấn tượng trước Trang thông tin điện tử của Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc bởi bên cạnh nội dung phong phú về các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tổng Công ty, Trang tin còn đem lại cho người xem những sản phẩm văn hóa cần thiết và hết sức giá trị, trong đó, có sự góp sức rất lớn của nhà báo Nguyễn Quang Tình.
Cuộc sống muôn hình, muôn vẻ. Mỗi người một tính cách. Mỗi người một sở thích. Đời sống phát triển, thú chơi của mỗi người cũng rất khác nhau. Trần tục hay thanh cao tùy theo cách nhìn nhận, đánh giá của mỗi người. Tuy nhiên, từ xa xưa, các bậc tiền nhân đã thả hồn theo bốn thú tiêu khiển chính là Thư, Điểu, Thụ, Ngư. Sau này, nhiều người còn có thú chơi đồ cổ, chơi tem, sưu tầm tiền giấy, tiền xu, chơi gà chọi, chơi chó cảnh.... , trước là đam mê, sau là giao lưu, trao đổi, học hỏi, sau nữa cũng có thể là làm giàu. Thế nhưng, đến nay, thú chơi sách vẫn được xem là đứng đầu, thuần túy là niềm say mê, không gợn chút vật chất nào cả. Đến nhà riêng của anh, tôi thấy anh dành cả tầng 3 làm nơi để sách và đọc sách. Anh bảo “ Tài sản nhiều nhất của tôi hiện giờ là sách, nhưng nếu có đem bán cũng chả được bao nhiêu, bởi ngày nay không còn nhiều người đọc sách kiếu cũ nữa”. Vẫn biết từ xưa đến nay chẳng ai giàu lên từ các con chữ, những quyển sách, nhưng niềm say mê này cũng vất vả, nhọc nhằn chẳng kém bất kỳ thú chơi nào. Ngoài ra, nhiều khi nó còn ẩn chứa những nguy hiểm khó lường. Từ xưa đã có nhiều vụ án oan dành cho những kẻ đa mang nghiệp chữ nghĩa. Một câu thơ, một bài văn vu vơ nhiều khi cũng khiến cho chủ nhân của nó, nhẹ thì mất nghiệp, nặng thì dính vào vòng lao lý, tan gia, bại sản, bạn bè, người thân vướng bận lây. Biết là vậy, nhưng khi vướng rồi, mấy ai đã thoát khỏi  cái nghiệp thơ –văn!./.  Vây nên !                     Chữ nghĩa đa mang suốt cuộc đời
   Hiếm khi tìm được phút thảnh thơi ?


                                                          Hà Nội hè 2013

                                                      Nguyễn Quốc Trung
                                    Viện Khoa học công nghệ mỏ - Vinacomin
           

 

Số lượt đọc: 3900 - Cập nhật lần cuối: 07:30 | 25/06/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ