Nguyễn Cao Thâm Người “thợ cày” trên đất mỏ

        Nhà văn Vũ Thảo Ngọc

       Biết Nguyễn Cao Thâm từ lâu, không biết có phải do văn nghiệp, do ngàn lẻ một lý do nào đó không mà Nguyễn Cao Thâm cũng ...giống tôi, trở đi rồi trở lại với người và đất vùng mỏ, với gia đình thợ mỏ rộng lớn mà những năm tháng đầu đời sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp mỏ anh đã về đầu quân tại Xí nghiệp Xây lắp mỏ Mông Dương.  Những năm tháng tuổi trẻ ở đó anh đã bắt đầu nghiệp làm than là gắn bó với nghiệp cầm bút. Những tác phẩm kịch ngắn viết ngay trong những đêm ca ba thao thức để phục vụ nhiệm vụ chính trị tại mỏ, tại Xí nghiệp Xây lắp Mông Dương còn non trẻ, nhân vật là thợ mỏ, diễn viên cũng là thợ mỏ, sân khấu cũng ở…mỏ, vậy mà vẫn bùng cháy những đam mê nghệ thuật của một cán bộ trung cấp mỏ từ thời đó...
    Cuộc đời mỗi con người đều có những ngả rẽ khác nhau, không ai giống ai và sau nhiều năm lên rừng, xuống biển, từ làm mỏ sang làm báo chuyên nghiệp đến khi lại trở lại làm mỏ ở lĩnh vực báo chí...thấy cũng kỳ lạ ở anh - một ông đồ xứ Nghệ luôn phát hiện những đề tài báo chí “hóc búa”, khiến từ đồng nghiệp cũng như những nhà quản lý đang ở chỗ bị nhà báo...đề cập đều phải giật mình!
   Khoan hãy nói về những dư ba cuộc đời của nhà văn, nhà báo, nhà viết kịch Nguyễn Cao Thâm (anh đã xuất bản Kịch bản phim, tiểu thuyết, truyện ngắn...), do cơ duyên của nghiệp văn, có thể, những tác phẩm đó mới được công chúng biết đến còn hạn hẹp, nhưng, những thể tài anh lựa chọn đều được sử dụng rộng rãi khắp các phương tiện truyền thông. Song, bút lực và hàm lượng kiến thức của Nguyễn Cao Thâm lại rất dồi dào, đa dạng và phong phú. Sức khoẻ thì có hạn, công việc làm báo cuốn đi như những mùa vụ không thể dừng lại, nhưng hầu như một đến hai năm là anh lại cho xuất bản một tập sách mới, khi thì kịch bản phim, khi thì tập bút ký báo chí, khi cho xuất bản tiểu thuyết.  Mà cuốn nào ra cuốn ý, bìa cứng phủ nhũ đẹp, trang trọng, chứ không như cánh tôi chỉ dám in để...có sách là tốt rồi.  Những tập sách ngồn ngộn tư liệu và sức sống của anh luôn làm người đọc anh rất  thú vị và thán phục sức lao động chữ nghĩa của nhà văn, và như tôi đùa gọi anh là “gã thợ cày trên đất mỏ”! Là đồng nghiệp với anh nhiều người cũng không thể không thốt lên sự nể phục đó, vì có cả ngàn người viết báo, viết văn, nhưng ý thức để xuất bản thành sách thì lại rất...lơ mơ. Nhưng Nguyễn Cao Thâm luôn ý thức việc tập hợp in ấn các tác phẩm của mình, một ý thức nghề nghiệp rất đáng trân trọng. Bởi lẽ, nhiều nhà văn chuyên nghiệp nhưng việc viết và có đủ tác phẩm để xuất bản thì cũng không phải nhiều lắm, thậm chí trong cuộc đời mình có cố gắng mấy cũng không thể in với số lượng lớn về đầu sách cũng như độ dày của những cuốn sách. Cả đời gắn bó với nghiệp cầm bút, cả đời làm…Phó tổng biên tập (anh nguyên là Phó Tổng biên tập Báo Bắc Cạn và hiện là Phó Tổng biên tập Tạp chí ngành Than – Khoáng sản Việt Nam), đến giờ anh đã cho xuất bản hàng chục đầu sách cả văn học và báo chí, chủ biên nhiều cuốn sách tư liệu lịch sử các đơn vị, trong và ngoài ngành Than - Khoáng sản.
    Trong các tác phẩm của anh tôi đã đọc, tôi hay bất cứ độc giả nào đọc nói rằng hay, rằng thích thì vẫn chưa thỏa đáng, quan trọng tác phẩm đó đến với ta như thế nào, ta đón nhận nó ra sao từ thông tin báo chí đời sống văn hóa xã hội, hay một hình tượng văn học ám ảnh nào đó…Với tôi, chỉ xin đề cập đến phần lao động nhà văn, và tôi hết sức trân trọng sự lao động nghệ thuật đầy nghiêm túc, trách nhiệm của anh. Ấy là tập kịch bản phim Tiếng đập cửa, một tập kịch bản khá là dày dặn về nghệ thuật dựng hình ảnh, cái cốt lõi của kịch bản phim. Kịch bản đề cập đến là bối cảnh vùng mỏ với bao bề bộn của đời sống xã hội, cái cao sang và cái thấp hèn luôn song hành, nhưng sự lãng mạn của những con người vùng mỏ sống trong môi trường đó đã làm cho ta thấy thêm yêu con người và vùng đất đó hơn, dù đâu đó còn vài nỗi niềm chưa thỏa đáng…. Là khát vọng về hạnh phúc, về cuộc sống của một vùng đất đầy gian khó nhưng cũng vô cùng anh hùng, nhưng cũng có nhiều cảnh đời chân thật với những mưu mô xảo trá, đê tiện trên con đường mưu sinh dằng dặc...
    Tập sách mới nhất ở thể loại Ký vừa xuất bản năm 2011,  anh lấy tên Ký sự nhân vật dày hơn 500 trang khổ lớn, bìa cứng, nhìn cuốn sách thấy mê, trong đời làm sách có được những cuốn in sang trọng thế này cũng hiếm…cuốn sách chứa đựng dầy dặn tư liệu về những nhân vật “hóc” của ngành than mà nhiều người chưa biết. Đó là chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp hồn hậu, chân tình; người Anh hùng số một của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Một chân dung ông Đoàn Văn Kiển – nguyên Tổng giám đốc – Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam… với nhiều tình tiết khá ly kỳ-một con người “huyền thoại” của ngành Than - Khoáng sản Việt Nam. Những ông Thứ trưởng Bộ Mỏ & Than  Nguyễn Đức Phan tận tuỵ với những người làm mỏ, đến ông cựu Cục trưởng Cục Kiến thiết cơ bản thuộc Bộ Điện Than-người lai Phi - Nguyễn Văn Lang với biết bao trìu mến. Từ các bậc anh hùng hay vĩ nhân đến những điều giản dị gây xúc động lòng người ấy là viết về người cha nông dân - một ông đồ thứ thiệt tại quê nhà – đã nuôi một đàn con từ chiếc máy khâu cũ kỹ đã hun đúc tình yêu quê hương đất nước và tình yêu chữ nghĩa, văn chương cho các con qua những trang sách cổ. Và, trong đàn con chín mười người đó, đã có được một người con trở thành nhà văn, nhà báo Nguyễn Cao Thâm như bây giờ, mới thấy giá trị nhân văn biết chừng nào về tình cha con, về tình phụ tử, về truyền thống hiếu học của miền quê đất học xứ Nghệ ….
    Đọc thể loại tiểu thuyết, kịch bản phim hay truyện ngắn của Nguyễn Cao Thâm, ta sẽ gặp ở đây một Nguyễn Cao Thâm già dặn, bứt phá nhưng cũng không kém phần tung tẩy với vốn ngôn từ đa thanh, đa âm về cách xây dựng  nhân vật rất đắc địa, ta lại gặp Nguyễn Cao Thâm giỏi xây dựng chân dung nhân vật ở thể Ký bấy nhiêu. Đọc Nguyễn Cao Thâm là đọc ra những sự bộn bề của biết bao số phận khi thăng, khi trầm và không kém phần dữ dội của vùng đất khắc nghiệt hay thanh bình mà nhà văn đi qua. Dù viết về một con người, một vùng đất hay một món ăn…Nguyễn Cao Thâm luôn tỉ mẩn, chi tiết và viết một cách chân thực, say mê, anh đã truyền cái cảm xúc của người viết tới độc giả nhanh nhất từ chi tiết nhỏ như “tác nghiệp ở độ sâu âm 110”, “thịt chó ở …Lào”;
    Qua những trang viết của Nguyễn Cao Thâm ta được  hoà chung vào những mảng đời sống vô cùng hiện thực mà bất cứ một độc giả nào khi cầm cuốn sách trên tay đều muốn có điều đó. Ở tuổi “tri thiên mệnh” rồi, với cả cuộc đời cầm bút của mình, nặng lòng, đam mê, nhiệt huyết…nhà văn, nhà báo Nguyễn Cao Thâm đã đem lại cho độc giả nhiều cảm xúc tươi mới. Hy vọng thời gian sẽ tiếp tục ủng hộ để nhà văn, nhà báo Nguyễn Cao Thâm - người thợ cày trên vùng mỏ -sẽ tiếp tục cống hiến cho bạn đọc những tác phẩm mới.
 
                                                       Hà Nội, mùa thu 2012


















Vũ thảo ngọc

   ĐẤT BỎNG-BỘ TIỂU THUYẾT SỬ THI VỀ VÙNG MỎ CẨM PHẢ

    Nhà thơ Trần Tâm – nguyên là cán bộ mỏ than Đèo Nai (Cẩm Phả - Quảng Ninh), ông làm thơ và viết văn, cả hai thể tài đều thành công, nhưng độc giả biết nhiều đến ông làm thơ hơn thì phải, vì ông được kết nạp vào hội Nhà văn Việt Nam ở Ban thơ! Nhưng có lẽ,  vì “món nợ” với vùng đất ông sinh ra và lớn lên-cái vùng lõi khai thác than đá của Việt Nam-nên ông đã dồn công sức vào bộ tiểu thuyết sử thi có tên Đất bỏng trong thời gian 4 năm ròng trong điều kiện sức khỏe không hề thuận lợi....
   Đập vào ta là những dòng mở đầu nhiều ám ảnh của tập 2 bộ tiểu thuyết 4 tập có tên  Đất bỏng của nhà văn Trần Tâm vừa được xuất bản. “Chù dật dờ bước từng bước trên con đường đất từ Cửa Ông về Cẩm Phả. Trong túi còn đúng hai mươi bảy xu. Nắng ong ong báo một ngày hè oi ngột.”
   Ở đây như một tiếng chuông buồn rỉ rả giữa vùng đất đang đang nằm trong sự thuộc địa của kẻ mạnh. Cái giá trị được đong đếm, được chi ly “hai mươi bảy xu”, như muôn con số bình thường, thậm chí chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng quả thực, đọc những dòng này tôi cứ miên man những đồng tiền nhỏ nhoi của cánh phu mỏ mới eo hẹp làm sao, mới khốn cùng làm sao. Hình ảnh “Chù dật dờ từng bước...” lại càng làm cho ta thấy khung cảnh thời ấy sao mà u ám, sao mà buồn thương, xa xót. Cái u ám như choán cả tầng không gian vùng mỏ một cách trọn vẹn. Cuộc sống đâu chỉ khốn khó một chỗ nào đó, nó không chọn chỗ nào để cho khốn khó. Nó bao trùm, nó nghiệt ngã, nó “oi ngột”-chữ của nhà văn. Hình như cuộc sống vùng mỏ cứ như thể luẩn quẩn trong một vùng tối om, trong một sự thảng thốt đến kinh ngạc. Không ai hình dung được cuộc sống vùng mỏ-những thân phận culi mỏ ngày đó lại có những năm tháng kinh hoàng đến vậy.
  Những số phận con người nghèo khó lê thê vắt từ ngày này sang ngày khác, vắt từ thế hệ này đến thế hệ kia. Những con người mà thực ra gọi đúng tên phải là những kiếp người cùng khổ. Mấy bác cháu, anh em ông Đục xuất hiện ngay đầu tập 1 cũng cho ta một sự liên tưởng những tháng năm u ám đó. Những người nông dân Nam Định đã tự ý thức được cuộc sống tù túng ở nơi thôn dã và quyết tâm ra đi để tìm cơ may cho cuộc đời vốn dĩ cũng khốn cùng ở nơi quê nhà,  sự nghèo khổ ở làng quê đã thôi thúc họ khi: “Mỗi đứa được ba hào rưỡi. Công làm suốt hai tháng trời với người chủ tốt. Lặn tiền vào đáy túi đã được khâu rút chần trì cẩn thận, cả bọn cuốc bộ trên con đường gồ ghề, lồi lõm mới ngày nào còn phơi dày rạ rơm...Ông Đục đã ngoài năm mươi dẫn bốn đứa trẻ đi bộ ra mỏ. Năm cái bóng dăng rải trên đường, thập thững bước. Không một ai biết đây là lớp lứa đầu tiên làm nên lịch sử vùng mỏ khổ đau tăm tối và oai hùng rạng rỡ suốt những năm tháng sau này.” (Chương 1- tập2)
Và con đường hành trình ra mỏ than làm kiếp culi bắt đầu từ đây, “năm cái bóng”- những bước chân xiêu vẹo, cơn mưa lũ suýt làm mất mạng một thành viên trong đoàn. Hình ảnh đau buồn này khiến ta liên tưởng tới số phận của họ không xa trong cái tương lai mà họ đặt cược cuộc đời họ để đến đó là VÙNG MỎ xa lắc. Con đường thiên lý đi tìm chân trời mới cứ như thể dài ra, u ám, kéo dài, nhưng điểm cần đến đã đến. Những người đồng quê đi trước đỡ đần cho người đi sau, cứ thế, cây thêm chồi, vườn thành rừng, sinh sôi những thế hệ tiếp sau dù còn mịt mùng trong đêm đen u uất.
Suốt chiều dài 4 tập sách, những tên tuổi gắn với số phận con người đã làm nên một lịch sử hào hùng của vùng than. Từ thời còn thuộc địa đến khi cách mạng về, đến thời đổi mới. Mỗi chương trong các tập đều chứa đựng những thông điệp về số phận con người gắn với vùng đất đặc biệt này. Cái vùng lõm Cẩm Phả là trung tâm phản ánh của bộ tiểu thuyết 4 tập. Bóng dáng những cu li mỏ oằn lưng với kiếp làm than nhọc nhằn, những tệ nạn xã hội từ bon chủ mỏ đầy ác ý, những sự khốn cùng của những người thợ nữ bị hãm hiếp ngay trên tầng mỏ, những người thợ nam bị quỵt tiền lương, bị đánh đập tàn khốc, dã man. Những cái chết tức tưởi chỉ vì muốn duy trì sự sống một cách lương thiện cũng không được đáp ứng...Những chương, đoạn thời khắc lịch sử đen tối này như càng nung nấu ý chí, nghị lực của những người thợ mỏ âm thầm và mãnh liệt để làm nên cuộc cách mạng vô sản chưa từng thấy vào năm 1936. Họ đã sát cánh bên nhau, những con người nghèo khổ đó, áo chưa đủ ấm, cơm chưa đủ mặc đã bền bỉ đấu tranh đòi quyền lợi cho mình và giành thắng lợi tuyệt đối...
Tiểu thuyết Đất bỏng , không có nhân vật trung tâm như ta thường thấy trong các bộ tiểu thuyết truyền thống, mà có tới hàng chục nhân vật đại diện cho những thế hệ thợ mỏ cần cù, cam chịu và sống mãi với thời gian ở một thời điểm lịch sử của dân tộc còn chìm trong gian khó, dưới gót giày của bọn chủ mỏ đế quốc, cho đến khi cách mạng về, người thợ mỏ được trở thành con người của xã hội chủ nghĩa, thành quả đấu tranh cách mạng của họ bắt đầu được thụ hưởng.  Cho đến khi đời con cháu họ, tiếp tục được làm chủ tập thể, làm chủ nhà máy, công xưởng, được học hành, được vươn lên, thoát nghèo rồi làm giàu, rồi hưởng thụ... Xung quanh sự phát triển của xã hội là cả một vòng xoáy nghiệt ngã, mỗi con người trong tổng thể xã hội vùng mỏ đều cố gắng vươn lên để khẳng định mình, khẳng định thế mạnh, tiềm lực vốn có của mình. Sau cuộc chiến tranh giải phóng đất nước sau ngày bộ đội tiếp quản Cẩm Phả thì lại tiếp theo là cuộc hành trình của những người con Cẩm Phả đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đó là hình ảnh những người thợ mỏ-những chàng trai rực cháy tuổi thanh xuân lại lên đường chống Mỹ... Những ruộng muối, những bãi sú, bờ moong, ngôi đình, ngôi chùa, ngôi làng quanh vùng lõm Cẩm Phả hiện lên khi thăng, khi trầm, khi vui, khi buồn cứ đưa ta đến những miền cảm xúc mới lạ, mới lạ ở ngay chính quê hương ta mà dù ta ở đó nhưng không phải ai cũng biết, cũng tường tận. Nhờ những trang văn của MỘT NGƯỜI CẨM PHẢ đích thực mà người đọc có được những trang tiểu thuyết sử thi  hiếm hoi về một vùng đất mang đầy chất bi tráng vùng Đông Bắc Tổ quốc. Với tình cảm, với sự trải nghiệm nhà văn Trần Tâm đã khắc hoạ vùng đất đó hết sức kỹ lưỡng, trau chuốt, đặc biệt là sự kiện, là hình vóc một Cẩm Phả thời đen tối đến ngày hôm nay dưới ánh sáng của Đảng, Bác Hồ, vùng đất và con người ở nơi đây đã vượt lên bao nhiêu lần so với nửa đầu thế kỷ trước.
Từ cách đặt vấn đề, đến giải quyết các vấn đề của bộ tiểu thuyết với chiều dài lịch sử ngót nghét trăm năm nên nhà văn Trần Tâm dù cố gắng đến mấy cũng không tránh khỏi những chương, những đoạn còn nhiều giản đơn hoặc như còn sót lại dấu vết của tư liệu. Chẳng hạn ta thi thoảng gặp những đoạn như sau:
    “ Tháo quê Hải Hậu. Phả hệ các cụ truyền lại ghi thuỷ tổ khai sáng Quần Anh tên huý là Vu, tên thuỵ là Phúc Đức. Tổ là cháu 12 đời Đức thánh tổ Trần Hưng Đạo, cháu 11 đời Đức tổ Hưng vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Thuỷ tổ bà họ Mai tên hiệu Từ Quang. Ông bà sinh hạ một trai là tổ huệ Thông. Tổ huệ Thông sinh hai con trai: An Cư - Tuyên Vũ. Tổ An Cư sinh sáu con trai dần dần qua nhiều đời thành nhiều chi, ngành khắp huyện Hải Hậu. Các cụ kể lại, ghi chép thế nào do các cụ. Mình sinh sau, nghe và tin như thế....” (Chương 1 -Tập 3)
   Hoặc địa danh thật, tên người thật :  Lý Nghiêm làm xã trưởng Hoàng Long (Nam Trực). Nhà mười lăm mẫu ruộng....
    Thuận Vi trước kia thuộc Nam Định, nằm ở hữu ngạn sông Hồng. Do thiên tai sạt lở, bồi đắp dịch chuyển, đất từ hữu ngạn đưa sang tả ngạn. Người đầu tiên phát hiện, di dân ra đấy là người dòng họ Nguyễn Đình. Ông đưa dân khai phá, lập ra làng Gòi sau đổi thành Thuận Vi. Ông tên là Nguyễn Đình Lan tri phủ huyện Vĩnh Lại, người kiên quyết đưa làng về tỉnh Thái Bình. Dân đã lập đền thờ để ghi sự tích. Làng Thuận Vi gần bến đò Tân Đệ...
    Xa xưa, Cẩm Phả là một xã thuộc châu Tiên Yên. Nhà Nguyễn chuyển Cẩm Phả về huyện Hoành Bồ. Một xã dài, dày đặc núi. Núi đá, núi đất, chỗ liền chỗ cắt nhưng song song nhau. Những thửa ruộng nhỏ, ít màu mỡ do người Sán Dìu, Kinh, Hoa, Thanh phán, Thanh y khai phá
Đoạn văn không làm thấp giá trị của các vấn đề nhà văn đưa ra, nhưng vì trong cái mạch chảy của câu chuyện người đọc khó tính sẽ dễ nhận ra đã ông sa đà vào chi tiết quá mà không chi tiết hoá được nó để người đọc thấy còn sượng vì cách kể hồn nhiên, vô tư, đan chéo các sự kiện dễ bị rối...
 Xuyên suốt bộ sách là không khí vùng mỏ Cẩm Phả luôn ăm ắp những sự kiện, những thay đổi, những được thua và đau đớn về thể xác, tâm hồn khi còn là kiếp dân thuộc địa. Mỗi thời khắc lịch sử là một vấn đề cần được khai phá và chiêm nghiệm. Từ khi chưa có chính quyền về tay nhân dân đến khi được làm chủ bản thân, làm chủ xã hội là những lát cắt lịch sử chứa chan biết bao điều cần nói.
 Là một độc giả tôi chỉ cảm nhận được những vấn đề trong tiểu thuyết Đất bỏng  thực sự là một cuốn tiểu thuyết mang tính sử thi hấp dẫn người đọc. Cái bỏng rát của vùng đất đó không chỉ dừng lại ở sự bỏng rát của thời tiết vùng mỏ vỗn dĩ khắc nghiệt, mà là sự bỏng rát của những kiếp người giữa vùng lõm than biển Cẩm Phả - Quảng Ninh qua nhiều thời khắc lịch sử cực kỳ khắc nghiệt và anh hùng. Tiểu thuyết Đất bỏng ra đời như một sự khẳng định thêm tiềm lực văn chương của riêng nhà văn cũng như của vùng than biển Quảng Ninh. Đây là một bộ tiểu thuyết đồ sộ nhất từ trước  tới nay ở vùng than Quảng Ninh với độ dày 4 tập, chỉ viết riêng về một vùng đất CẨM PHẢ...

Hạ Long, 10/2011

Vũ Thảo Ngọc
Người đàn bà thơ


     Tôi thích dùng từ này với Nguyễn Thị Dung, vì tình cờ trong muôn vàn lý  do tình cờ nào đó tôi đã gặp và phát hiện ra chị làm thơ, và là một “người đàn bà thơ” rất đúng.
Mặc dù tốt nghiệp đại học kinh tế quốc dân, có nhiều lựa chọn để tiến thân bằng cái văn bằng đó, nhưng vì cái tố chất “người thơ” ấy nên Nguyễn Thị Dung chỉ đủng đỉnh với chân quản đốc phân xưởng phục vụ của một công ty ngành than…Chuyện bến núc của chị khỏi bàn, những món ăn khi phục vụ hội nghị, khi là cơm giữa ca…muôn vàn công việc của người phục vụ. Nhưng khi còn lại khoảnh khắc của riêng mình chị bèn thả hồn vào thơ. Âm hưởng những bài thơ đầu tiên lại là âm hưởng của thể loại trường ca-thể loại vốn kén người viết, kén vấn đề thể hiện- nhưng khong vì thế mà Nguyễn Thị Dung nản chí. Chị hồn nhiên thả cái trường cảm xúc trào dâng đó vào Trường ca Đặng Bá Hát-người con quan vinh- viết về liệt sĩ thợ mỏ Đặng Bá Hát-người đại đội trưởng đại đội pháo canh giữ bầu trời Hòn Gai, canh giữ an toàn cho những chuyến phà Bãi Cháy đảm bảo thông tuyến trên con đường huyết mạch ra vùng than Đông Bắc của Tổ quốc, người thợ mỏ- người lính ấy đã hy sinh anh dũng cho bầu trời bình yên của Tổ quốc đã găm sâu trong trái tim người đàn bà thơ hơn ba mươi năm sau để chị sáng tạo ra Trường ca Đặng Bá Hát đầy âm hưởng thi ca. Chị là lớp thợ mỏ kế tiếp thế hệ Đặng Bá Hát nhưng lại được làm việc và sống trong khung cảnh hòa bình. Vì thế, giá trị của ngày hòa bình, âm hưởng của sự hy sinh anh dũng của những người con đất mỏ đã góp phần cho thi ca bay lên. Hãy đọc những vần thơ mang đầy âm hưởng Tổ quốc của Nguyễn Thị Dung:
“Xiết chặt tay
Hỡi những người phu mỏ.
Ta là than
Ta là người truyền lửa
Đuốc bừng sáng từ tay người thợ mỏ
Thợ nhà sàng, Cơ khí Hòn gai”

Và tiếp nối truyền thống cha anh đó là hình ảnh người thợ mỏ hôm nay cũng không kém phần bi tráng:
Trên mâm pháo mặt sạm đen khói súng
Mắt tinh anh
Theo dõi bọn giặc trời
…Đạn nòng pháo vút lên trời vang dội
Bị thương rồi - Cờ lệnh vẫn phất cao
Người con anh hùng đất mỏ thân yêu
Vẫn đứng thẳng - Pho tượng đài chiến thắng
… Giặc cút rồi, trận địa ngừng tiếng súng
Dưới nắng chiều - Đất mẹ nhẹ nâng anh,
Máu của anh cùng  đồng đội hi sinh
Đã nhuộm đỏ lá cờ quyết thắng

Ở đây ta gặp lại âm hưởng hào hùng của một thời gian khó, những con người quả cảm dám hy sinh thân mình vì sự bình yên cho Tổ quốc không một chút so đo. Mạch cảm tư duy về âm hưởng Tổ quốc, dân tộc luôn luôn thường trực và dồn nén trogn người đàn bà thơ Nguyễn Thị Dung, chị như không thể ngừng cái mạch cảm ấy, và nếu phải ngừng chắc chị sẽ…không thể làm thơ. Vì đọc hết tập thơ Ngọn lửa than – NXB Hội nhà văn 2011 - của chị, cái cảm xúc đó thực sự đã chế ngự người đọc trọn vẹn. Cái trong trẻ, cái kìm nén của của xusc về những thời khắc khác nhau của lịch sử dân tộc mà chị đã đọc, đã học và trải nghiệm qua chính thời điểm lịch mình đã chiêm nghiệm. Nhưng trong cái trường cảm xúc về đất nước, về dân tộc đó, là nhiều lát cắt khác về tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng, bè bạn thủy chung bên nhau…Đọc những câu thơ viết về thầy cô, về quê sinh, quê chồng … của chị người đọc lại được nhân lên niềm tin yêu về những gì còn trong trẻo lắm, tinh khôi lắm giữa bộn bề cuộc sống thường nhật đầy bất trắc hiện tại. Hãy nghe chị viết về chồng-mối tình đầu-niềm tin yêu vững chãi ở người chồng-là niềm tin yêu vào cuộc đời đầy dịu ngọt vẫn ở cạnh ta mà ta chưa kịp nhận ra trong bài Có lẽ nào…
…Tự đặt mình vào anh trong mỗi việc làm
Trư­ớc nhộn nhạo ngã ba, ngã bảy
Đều làm theo con tim mình mách bảo
Mà trái tim em chỉ thuộc về anh
Hoặc:
Tình yêu của anh như đêm hè dông bão
…Nhìn mặt nước nhủ giếng sâu lắm lắm
Chẳng tiếc dây gầu thả xuống trăng in
…Anh là cánh chim phiêu lãng bên trời
….Cả đời em chỉ chờ một ánh sao băng./.
   Tin yêu đến độ, nồng nàn và cũng quyết liệt để gìn giữ tình yêu ấy. Trong mỗi bài thơ, dù viết cho riêng anh, nhưng bao giờ hình ảnh lớn hơn về đất nước, dân tộc cũng được Nguyễn Thị Dung khắc họa một cách thân thương và trìu mến. Sự hóa thân của người thơ vào thân phận con người cụ thể đến hình tượng nghệ thuật là một điểm nhìn cần được ghi nhận ở sự lao động nghệ thuật của chị. Có lần chị đã tâm sự vớ tôi: với chị, thi ca như một cõi thiêng, chị chẳng bao giờ dám bén mảng tới, chị chỉ làm những gì mình thích, những gì thuộc về cảm xúc khi nó ập vào con tim, khối óc của mình. Nghe chị tâm sự thế, tôi thật sự khâm phục chị, người đàn bà làm thơ đa cảm, và có lẽ, nếu không đa cảm chắc gì chị đã có thơ! Và khi ta lật giở những bài thơ trong tập Ngọn lửa than ta sẽ gặp vô vàn mạch cảm ấy trong bài Hạt cát nơi địa đầu Tổ quốc:
“Lớp lớp tráng binh trấn ải biên thuỳ
Giống như cát, nhận vào mình bão tố
Đình Trà Cổ giữ hồn cho gốc lúa

Đây hạt cát, chấm đầu chữ S
Như ngôi sao trên trán mẹ hiền
Bao đời rồi trong cơn binh lửa
Sao bùng lên cháy sáng bên trời”
Ta sẽ gặp những hình ảnh đầy cảm xúc khác nó góp phần dung dưỡng tâm hồn khi ta có lúc …mất thăng bằng:
Không kiêu sa, rực rỡ sắc hương
E ấp  tinh khôi, sáng bừng đồng nội
Những cái gai không hề bối rối
Mọc trên cành, mang cốt cách Tầm Xuân…
(Hoa tầm xuân)
Sần tay xếp ải vãng cày
Mẹ gom nắng nhạt những ngày cuối đông
Bàn tay nứt nẻ chân chim
Đất nhận từ mẹ ước mong mùa vàng….
 (Bàn tay mẹ)
Tơ trời giăng ngõ hai nhà
Trầu cau vấn vít, em là vợ anh
Đất lề, quê thói làm quen
Mảnh mai chữ nhẫn tô thêm cho vừa….
(Làm vợ)
Đường về xa lắm người ơi!
Sao trói tôi lại bằng lời hát then?
Lá bùa giấu ở đâu, em ?
Mắt cười, miệng hát chung chiêng mây trời….
(Sơn nữ)

    Và còn nhiều những câu từ ám ảnh khác, tựu chung, tinh thần thi ca của người đàn bà thơ Nguyễn Thị Dung thực sự là một hồn thơ tinh tế, trong trẻo nhưng lại mang âm hưởng lớn lao về Tổ quốc, về dân tộc, về những biến thiên của cuộc đời dài dặc này. Xin chúc chị từ  tác phẩm đầu tay Ngọn lửa than này, chị sẽ còn đi tiếp những bước dài hơn nữa để được chạm vào đỉnh cao của Tháp ngà văn chương mà chị từng ví von ngày nào.
 

Số lượt đọc: 3635 - Cập nhật lần cuối: 06:53 | 26/04/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ