Than Na Dương: Nỗ lực bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là hai yếu tố không thể tách rời nhau đối với quá trình phát triển của một doanh nghiệp. Sự phấn đấu xây dựng thành một doanh nghiệp phát triển bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường là mục tiêu lâu dài của Công ty TNHH MTV Than Na Dương (Than Na Dương). Để đạt được mục tiêu đó, Than Na Dương đã thiết lập chính sách môi trường nhằm định hướng cho CBNV-LĐ trong Công ty phải luôn tuân thủ các quy định của pháp luật, đồng thời duy trì các hoạt động cải thiện và bảo vệ môi trường. 

Theo Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, có xét đến năm 2030, các mối nguy hại do ô nhiễm nước thải từ các mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã được đặt ra cấp thiết. Đối với hai thông số điển hình tác động đến môi trường của nước thải mỏ là độ pH và cặn lơ lưởng, các kim loại nặng (sắt, mangan). Trong đó độ pH dao động từ 3,1 đến 6,5, hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn ngưỡng cho phép từ 1,7 đến 2,4 lần. 

Mỏ Than Na Dương được khai thác theo công nghệ lộ thiên, công suất khai thác hiện nay đạt trên 600.000 tấn than nguyên khai/năm. Là loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao, dễ phong hoá, dẽ bốc cháy, vì vậy, than khai thác ra chủ yếu cấp cho nhà máy nhiệt điện Na Dương. Đặc biệt, Than Na Dương lại là một trong những doanh nghiệp nằm trong danh sách của Quyết định 64/2003/QĐ-CP. Do vậy, việc tăng cường thực hiện các biện pháp hay đầu tư hệ thống xử lý nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường xung quanh trong qúa trình khai thác than của Than Na Dương luôn đặt lên hàng đầu.

Cũng như các mỏ khai thác lộ thiên khác, nước thải từ moong khai thác của mỏ than Na Dương có tính tính axít cao, độ PH đo được từ 2,1 đến 2,8; hàm lượng sắt (Fe) và hàm lượng Mangan (Mn) vượt quy chuẩn Việt Nam (QCVN) rất nhiều lần. Bên cạnh đó, hàm lượng chất rắn lơ lửng cũng tương đối cao và nước thường có màu đỏ nâu do chứa nhiều sắt (Fe) và lưu  huỳnh (S) nên khi xả thải vào môi trường làm ảnh hưởng không những chất lượng nước mà cả độ màu của nước sông suối trong khu vực. Mặc dù, trong những năm qua Than Na Dương đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng hệ thống này chưa đáp ứng được yêu cầu cả về công suất lẫn chất lượng nước xả thải.

 

 Ảnh: Đại diện lãnh đạo Tập đoàn, Tổng công ty , chính quyền địa phương chính thức phát lệnh khởi công

 

Để chống hiện tượng than “tự cháy” gây ô nhiễm không khí, đồng thời, phòng chống hàng triệu m3 nước thải có chứa a xít theo các khe chảy vào các sông hồ, mỗi năm Than Na Dương đã sử dụng hàng nghìn tấn vôi (2,7-3,0kg vôi/m3 nước thải) tạo phản ứng trung hòa, khử a xít độc hại. Chỉ tính riêng năm 2011, chi phí cho công tác BVMT của Than Na Dương là 5.428 triệu đồng trong đó chi cho việc xử lý nước thải khu vực mỏ là 3.388 triệu đồng. Công tác nạo vét bùn lắng sau quy trình thải với khối lượng 40.000m3, tương ứng với giá trị trên1.300 triệu đồng. 

 Đặc biệt, từ năm 2009, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc đã phối hợp với Viện Khoa học công nghệ Mỏ lập dự án xây dựng “Hệ thống xử lý nước thải mỏ than Na Dương”, với mục tiêu xử lý nước thải mỏ than Na Dương đạt tiêu chuẩn B- QCVN24:2009/BTN&MT trước khi xả thải ra môi trường. Hệ thống xử lý nước thải có công suất 600m3/h, đảm bảo nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn B- QCVN24-2009/BTN&MT. Hệ thống bao gồm 15 hạng mục, trong đó có các hạng mục đồng bộ như hệ thống hồ điều hòa, hệ bể trung hòa và bể lắng sơ bộ; 01hệ bể keo tụ và bể lắng lamella; cụm bể lọc cát Mangan… được xây dựng trên diện tích 23.000m2, với tổng mức đầu tư trên 30 tỷ đồng từ Quỹ Môi trường tập trung của Vincomin. Dự kiến dự án hoàn thành và bàn giao vào sử dụng trong quí II/2013.

Tuy nhiên trong quá trình thi công dự án, Than Na Dương rất cần sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân huyện Lộc Bình, thị trấn Na Dương phối hợp, ủng hộ để Công ty sớm có mặt bằng, đảm bảo an toàn trong quá trình thi công và đúng tiến độ đề ra. 

 

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp giờ đây không chỉ là một phần chi phí của doanh nghiệp, mà được xem như một phần của quản trị chiến lược cho thương hiệu. Đồng thời, đây là bằng chứng cho thấy doanh nghiệp phát triển bền vững luôn gắn trách nhiệm với cộng đồng địa phương. Với Than Na Dương, trách nhiệm xã hội còn nặng nề hơn, bởi không những bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội mà còn phối hợp với chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàn bảo vệ an ninh chủ quyền biên giới của Tổ Quôc.

Khôi Nguyên

 

Số lượt đọc: 4855 - Cập nhật lần cuối: 00:35 | 12/11/2012
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ