XÂY DỰNG VĂN HÓA AN TOÀN TRONG KHAI THÁC THAN Ở TRUNG QUỐC


                 
                  TS. Zou Lisheng
Cơ quan quản lý an toàn mỏ than tỉnh Yunman (Trung Quốc)
Nguyễn Quốc Trung dịch và biên tập

I. Giới thiệu chung
Trong giai đoạn 1990 – 2000, tổng sản lượng than đạt được tại Mỹ vào khoảng 10,4 tỷ tấn nhưng đã có 496 người bị thiệt mạng trong các vụ tai nạn liên quan đến khai thác than, với tỷ lệ chết người 0,0477/triệu tấn than. Trong các năm 1955, 2001, 2002 và 2005, số người bị thiệt mạng tại các mỏ than của Mỹ lần lượt là 46, 41, 28 và 22. Theo thống kê, cũng trong giai đoạn này, tổng sản lượng than của Trung Quốc cao hơn của Mỹ 22,83 triệu tấn, tuy nhiên, số người thiệt mạng là 65.653 người, với tỷ lệ chết người là 5,216/triệu tấn than.
Dựa trên các số liệu thống kê tại Trung Quốc và trên thế giới, có ba nhận xét chính liên quan đến các tai nạn mỏ than:
- 88% các vụ tai nạn do hoạt động của con người gây ra, cụ thể là, con người không tuân thủ theo những quy trình hoạt động an toàn hay có cách xử lý không an toàn;
- 10% các vụ tai nạn do hư hỏng thiết bị gây ra, những hư hỏng đáng ra được ngăn ngừa bằng công tác kiểm tra các thiết bị;
- 2% các vụ tai nạn do không kiểm soát được tình trạng gây ra. Những tình huống khẩn cấp này không thể dự báo trước được.
Theo quy luật về tỷ lệ tai nạn, có một số kết luận như sau:
- Có thể tránh hoặc ngăn ngừa được các tai nạn;
- Không có một môi trường an toàn tuyệt đối tại nơi làm việc. Hành vi và thói quen của người lao động tại nơi làm việc quyết định khả năng xảy ra tai nạn; các hành vi và thói quen dựa trên những nhu cầu về an toàn;
- Lãnh đạo các cấp phải chịu trách nhiệm về an toàn cho người lao động tuân thủ theo các nguyên tắc an toàn và nỗ lực đạt được các mục tiêu an toàn nhằm hình thành các thói quen an toàn tích cực;
- Mức độ an toàn cao hơn dựa trên hành vi lao động an toàn của mọi người tam gia lao động;
- Nhận thức rằng hoạt động an toàn là một nhiệm vụ bắt buộc;
- Hệ thống quản lý an toàn cần phải định hướng cho mọi người. Người quản lý phải đối xử với người lao động như các thành viên trong gia đình của mình.
Vì vậy, văn hóa an toàn là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động khai thác than tại Trung Quốc và cần được sự quan tâm, ủng hộ của toàn thể xã hội. Để đạt được những mục tiêu này, xã hội cần khuyến khích sản xuất an toàn và người dân cần có nhận thức đúng đắn về an toàn. Đối với người lãnh đạo, văn hóa an toàn cần phải được định hướng cho người dân, theo đó, tài sản và tính mạng của người dân được ưu tiên hàng đầu. Đối với các doanh nghiệp, cần triển khai các nguyên tắc an toàn phù hợp. Đối với người lao động, cần nhận thức sâu sắc khái niệm không gây tổn thương cho bản thân và người khác, không bị người khác gây tổn thương.
II. Khái niệm và các thành phần của văn  hóa an toàn
1- Khái niệm an toàn

Văn hóa an toàn tích cực được hiểu theo nghĩa người lãnh đạo và người lao động cùng chịu trách nhiệm về an toàn đối với bản thân và những người khác. Khái niệm an toàn tích cực bao gồm ba khía cạnh: (1) Mọi tai nạn đều có thể ngăn ngừa được; (2) Ngăn ngừa thiệt hại là nhiệm vụ hàng đầu; (3) An toàn là trách nhiệm của mọi người. Văn hóa an toàn tích cực bao gồm ba khía cạnh: (1) Con người: mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của an toàn trong sản xuất; (2) Môi trường: an toàn là một giá trị cần thiết; (3) Hành vi: mọi người thừa nhận và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình.
2- Thành phần văn hóa an toàn
Khái niệm về an toàn, khoa học và công nghệ an toàn, quy định về an toàn là những thành phần quan trọng của văn hóa an toàn.
- Khái niệm về an toàn và văn hóa an toàn:
Khái niệm an toàn là một điều kiện tiên quyết cho việc sản xuất an toàn và phát triển văn hóa an toàn. Hiện có rất nhiều định nghĩa về an toàn, nhưng trong các từ điển thông dụng, an toàn đồng nghĩa với “không nguy hiểm”. Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn điều tra hàng loạt tai nạn cho thấy, hành vi không an toàn và trạng thái không an toàn của hệ thống quản lý là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các tai nạn.
- Khoa học và công nghệ an toàn và văn hóa an toàn
Do là lực lượng sản xuất chính, khoa học và công nghệ và những đổi mới trong lĩnh vực này là những thành phần cấu thành của văn hóa an toàn. Đồng thời, nó cũng là nền tảng vững chắc và động lực để phát triển văn hóa an toàn. Tiến bộ trong khoa học và công nghệ an toàn và những đổi mới quyết định chất lượng văn hóa an toàn và mức độ văn minh của mọi người. Ngoài ra, nó cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động và mức độ phát triển kinh tế. Đổi mới công nghệ an toàn là động lực và nguồn gốc xây dựng văn hóa an toàn cũng như cung cấp một phương pháp mới xây dựng văn hóa an toàn. Khoa học và công nghệ là một trong những thành phần của văn hóa an toàn, tuy nhiên, để thể hiện tính năng tốt hơn, nó cần được liên kết chặt chẽ với văn hóa an toàn.
- Quy định về an toàn và văn hóa an toàn
Nhà nước yêu cầu thi hành các bộ luật, quy định và tiêu chuẩn an toàn; việc thi hành các quy định về an toàn cần phải có sự hỗ trợ của đời sống văn hóa. Các quy định về an toàn có liên quan mật thiết đến văn hóa an toàn. Đối với xã hội, doanh nghiệp và cá nhân, việc thực hiện các quy định về an toàn không chỉ là sự tuân thủ theo quy định của Nhà nước mà còn là sự thực hiện văn hóa an toàn.    
Thực tiễn tại Trung Quốc và trên thế giới cho thấy, văn hóa an toàn là yếu tố quyết định tính hiệu quả của hệ thống an toàn. Thái độ của người lao động về văn hóa an toàn trong cộng đồng thể hiện thông qua hành vi an toàn của họ. Trong các doanh nghiệp có một nền văn hóa an toàn tích cực, các hệ thống an toàn có thể hoạt động một cách hiệu quả. Trái lại, trong các doanh nghiệp có nền văn hóa an toàn không rõ ràng, vai trò của hệ thống an toàn cũng không rõ ràng.
3- Mục tiêu của văn hóa an toàn
Việc xây dựng văn hóa an toàn không chỉ liên quan đến bản chất tự nhiên của con người như kiến thức, kỹ năng, nhận thức, suy nghĩ, ý tưởng, quan điểm, đạo đức, cảm xúc mà còn nhấn mạnh đến hành vi con người như thiết bị an toàn, quy trình công nghệ, cơ sở sản xuất và thiết bị, vật liệu, yếu tố môi trường và các điều kiện vật lý. Vì vậy, mục tiêu của việc xây dựng văn hóa an toàn là hình thành lên một thói quen an toàn. Hình 3 giới thiệu các yếu tố hình thành các thói quen an toàn. 
Kiến thức, kỹ năng và ước muốn hình thành thói quen an toàn. Kiến thức thể hiện nhận thức về mọi vật, còn kỹ năng cho thấy khả năng tham gia vào công việc. Trong khi đó, ước muốn là sự sẵn sàng chỉ ra những điều mà con người đã thực hiện có giá trị. Khi thói quen này được hình thành, nó có thể giảm bớt đáng kể tỷ lệ thương tật hay tử vong trong các tai nạn. Chẳng hạn như, trong khi di chuyển bằng xe ôtô, mọi người đều biết tầm quan trọng của dây an toàn cũng cách thắt dây an toàn nhưng cũng còn một số người không muốn làm điều đó. Đó là những hành vi và thói quen an toàn xấu.
Hành vi của con người có thể chia làm ba loại: (1) hành vi được học tập, thông qua đào tạo, hướng dẫn, chỉ đạo; (2) Tóm tắt hành vi từ kinh nghiệm, từ thực tiễn làm việc và (3) hành vi tự nhiên = hành vi được học tập + hành vi từ kinh nghiệm.
Khi một hành vi trở thành không có ý thức, nó trở thành thói quen. Mục tiêu của văn hóa an toàn là khiến cho các thói quen an toàn trở thành hành vi tự nhiên. Sự hình thành văn hóa an toàn và thói quen an toàn cần có một quá trình nhất định bao gồm giai đoạn bản năng, giai đoạn phụ thuộc, giai đoạn độc lập và giai đoạn giúp đỡ lẫn nhau. Cùng với việc nâng cấp giai đoạn, tỷ lệ tai nạn sẽ được giảm đáng kể.  
III. Văn hóa an toàn và hành vi an toàn
Có năm đặc tính thuộc hành vi an toàn của con người: (1) đã được lập kế hoạch; (2) có mục đích; (3) đã được điều tiết bằng nhận thức; (4) đã chỉ ra sự khác biệt và (5) dễ dàng bị sửa đổi.
1- Ảnh hưởng của văn hóa an toàn đến hành vi an toàn của người dân
Văn hóa an toàn bao gồm văn hóa vật chất, văn hóa hành vi, văn hóa tinh thần, văn hóa tập quán. Văn hóa vật chất bao gồm vật liệu sản xuất, điều kiện sản xuất, môi trường hoạt động, thiết bị, bảo vệ lao động, cơ sở an toàn và sức khỏe. Văn hóa hành vi bao gồm quản lý an toàn, quyết sách và hành vi chỉ đạo, hành vi hoạt động và lao động của công nhân, hành vi và cách sống của gia đình họ. Văn hóa tinh thần bao gồm các giá trị an toàn, nhận thức an toàn dựa trên tinh thần an toàn của doanh nghiệp. Văn hóa tập quán bao gồm luật lệ, quy định, tiêu chuẩn đối với bảo vệ lao động và sản xuất an toàn, cũng như các quy định và tiêu chuẩn đối với an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, các hướng dẫn về hành vi an toàn của các doanh nghiệp.
- Văn hóa vật chất ảnh hưởng đến hành vi an toàn của người dân
Văn hóa vật chất đề cập đến tình trạng sản xuất an toàn doanh nghiệp. Ảnh hưởng của nó đến hành vi an toàn của con người có thể thấy qua việc áp dụng khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ bao gồm công nghệ đối với quá trình sản xuất và sản xuất an toàn, có liên quan đặc thù tới đặc tính vật liệu của dụng cụ và thiết bị sản xuất, nhà xưởng, vật liệu, nhiên liệu, môi trường lý hóa cũng như kỹ thuật an toàn, dụng cụ, thiết bị và phương tiện phát hiện và phòng ngừa tai nạn, biện pháp khẩn cấp, thông tin an toàn và những biện pháp vật lý khác. Hành vi an toàn có thể được cải thiện thông qua việc áp dụng công nghệ sản xuất hiệu quả và tiên tiến, sử dụng các hệ thống dự báo và ngăn ngừa tai nạn cũng như hệ thống cảnh báo an toàn tin cậy và chính xác.
- Văn hóa hành vi ảnh hưởng đến hành vi an toàn của người dân
Văn hóa hành vi an toàn là một phần động lực của văn hóa an toàn tập thể. Trước hết, văn hóa hành vi ảnh hưởng đến hành vi của người lãnh đạo trong những lĩnh vực sau: sự quan tâm và thái độ về làm việc an toàn; chiến lược, cách thức và khả năng được thể hiện trong lĩnh vực chỉ đạo; các quyết định và thái độ về thành lập quỹ an toàn; thực hiện công việc theo trách nhiệm của họ; thực hiện trong các lĩnh vực học tập các trình tự về an toàn, kiến thức và quản lý cải tiến; khả năng hành động và chỉ đạo khi tai nạn xảy ra. Thứ hai, văn hóa an toàn ảnh hưởng đến hành vi an toàn của công nhân, đặc biệt là trong kỹ năng vận hành và thái độ trong thực hiện công việc. Ngoài ra, văn hóa an toàn cũng ảnh hưởng đến công nhân và gia đình của họ trong mọi lĩnh vực. 
- Văn hóa tinh thần ảnh hưởng đến hành vi an toàn của người dân
Văn hóa tinh thần bao gồm các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, nhận thức xã hội, thái độ, đạo đức, ý tưởng, khái niệm … Những thành phần này cũng là một phần của hành vi nhóm và cá nhân và cơ sở lý thuyết của các hoạt động. văn hóa tinh thân ảnh hưởng đến hành vi an toàn thông qua những khía canh sau đây: những khái niệm triết học về an toàn; chú trọng vào việc ngăn ngừa và nhận thức an toàn; an toàn là để duy trì đạo đức cuộc sống, sức khỏe và sự sung mãn của công nhân; an toàn đem lại những lợi ích về kinh tế và xã hội; khoa học và công nghệ an toàn là những yếu tố quan trọng nhất của của khái niệm khoa học về năng suất; hệ thống an toàn là hệ thống kiểm soát; hệ thống sản xuất là một phần của hệ thống an toàn (hệ thống kiểm soát) theo khái niệm biện chứng. Tinh thần của văn hóa an toàn của người lao động bao gồm; mọi người cần nhận thức rằng, an toàn sản xuất là trách nhiệm riêng của họ; và mọi người cần hiểu rằng, tuân thủ các quy định và quy tắc là điều đáng tự hào; mọi người cần nâng cao nhận thức về kỷ luật bản thân, tự quan tâm, tự giúp đỡ, tự bảo vệ và giúp đỡ người khác; mọi người cần có nhận thức về các hành vi được tiêu chuẩn hóa và học tập các kỹ năng kỹ thuật.     
- Văn hóa tập quán ảnh hưởng đến hành vi an toàn của người dân
Văn hóa tập quán là một thành phần nhằm đảm bảo sản xuất an toàn trong một doanh nghiệp. Ảnh hưởng của văn hóa tập quán đến hành vi an toàn của con người được thể hiện qua việc thực hiện trách nhiệm tập thể, kiến thức và sự hiểu biết luật pháp và các quy định của nhà nước và sự xây dựng hệ thống an toàn và hệ thống tiêu chuẩn. Việc thực hiện hệ thống trách nhiệm bao gồm việc thành lập một hệ thống nghĩa vụ về sản xuất an toàn cho người đại diện hợp pháp, ban lãnh đạo có thẩm quyền, các phòng ban chức năng. Hệ thống an toàn và hệ thống tiêu chuẩn của doanh nghiệp bao gồm việc thành lập các hệ thống và các tiêu chuẩn đối với các loại hình công việc và đặc tính kỹ thuật, kiểm tra an toàn, hệ thống đào tạo và học tập an toàn, hệ thống thực hành an toàn, hệ thống giáo dục và quảng cáo an toàn, hệ thống điều tra và xử lý tai nạn, hệ thống bảo vệ lao động và bảo vệ nữ công nhân. Những tiêu chuẩn và hệ thống này đóng một vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi an toàn của người dân.      
IV. Kết luận
- Công tác an toàn là nhiệm vụ chung của mọi người. Mục tiêu của văn hóa an toàn là hình thành lên những thói quen và hành vi an toàn chuẩn mực, để mọi người hiểu rõ những tổn thất không mong đợi do tai nạn gây ra; tai nạn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến từng cá nhân và gia đình. Hãy bảo vệ bản thân và những người khác.
- Từ thực tế sản xuất và xã hội, cần hiểu rằng, các biện pháp quản lý và kỹ thuật không đủ để thực hiện sản xuất an toàn mà cần sự trợ giúp của các công cụ quản lý. Mặc dù các công cụ quản lý có một vài ảnh hưởng nhưng hiệu quả của chúng phụ thuộc vào công tác giám sát và phản hồi của công tác quản lý, đặc biệt là đối với công tác quản lý an toàn mỏ than.
- Việc xây dựng văn hóa an toàn cần thiết có sự tham gia nỗ lực của mọi người trong doanh nghiệp./. 


Nguyễn Quốc Trung (biên dịch)
Nguồn: Báo cáo khoa học tại
Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Mỏ quốc tế lần thứ 23,
Montreal, Canada - 2013


 

Số lượt đọc: 3310 - Cập nhật lần cuối: 03:05 | 20/08/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ