CÔNG TÁC KHOÁN - QUẢN TRỊ CHI PHÍ NĂM 2013, KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐIỀU HÀNH KẾ HOẠCH NĂM 2014 VỚI THỜI GIAN TIẾP THEO




                  Cử nhân Nguyễn Anh Tuấn
          Trưởng phòng Kinh tế kế hoạch Tổng công ty
                Công nghiệp mỏ Việt Bắc- Vinacomin

BTV. Trong các ngày từ 8 đến 10 tháng 6 năm 2014, tại Trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng Ngành Than- Sầm Sơn, Thanh Hóa, Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc-Vinacomin đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác khoán kinh tế tổng hợp năm 2013, sơ kết 5 tháng đầu năm 2014, triển khai nhiệm vụ còn lại  của năm 2014. Tại Hội nghị, cử nhân Nguyễn Anh Tuấn- Trưởng phòng KTKH đã trình bày bản cáo cáo quan trọng. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi đã biên tập lại thành dạng bài viết, đầu đề do chúng tôi đặt. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Năm 2013, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và khó khăn nhiều hơn, thương mại sụt giảm mạnh, tăng trưởng toàn cầu thấp, tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Ở trong nước, kinh tế khó khăn hơn năm 2012. Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP năm 2013 là 5,42% và tốc độ tăng giá tiêu dùng CPI  thực hiện 6,04% thấp hơn so với Nghị quyết của Quốc hội thông qua. Trong điều kiện công tác đền bù cho sản xuất than gặp nhiều khó khăn, thời tiết không thuận lợi, nhu cầu tiêu thụ than giảm so với các năm trước; sản xuất xi măng cung vượt cầu và có sự cạnh tranh khốc liệt ... đã tác động không tốt làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty. Trong bối cảnh đó dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Ban lãnh đạo Tổng công ty, sự đồng tâm hiệp lực của các công ty con, đơn vị trực thuộc và sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể CBCNV; năm 2013, Tổng công ty đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu kế hoạch điều chỉnh năm 2013, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với kế hoạch đầu năm và so với năm 2012.Thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu năm 2013. Doanh thu bán hàng, toàn Tổng công ty đạt 102 % kế hoạch, bằng 100,5% so với năm 2012.Trong đó: Doanh thu sản xuất than đạt  99,2%, sản xuất vật liệu xây dựng đạt 90.6% kế hoạch và sản xuất kinh doanh khác  bằng 123% kế hoạch. Sản xuất và tiêu thụ than đạt 1. 676 130 tấn bằng 104% so với kế hoạch; bóc đất đá đạt 13. 830 000 m3 bằng 99 % so với kế hoạch; sản xuất và tiêu thụ xi măng đạt 1.904 854 tấn bằng 87%.  Lợi nhuận trước thuế: đạt 1,9 tỷ đồng, Kế hoạch Tập đoàn giao: Hòa và  bằng 24 % so với thực hiện năm 2012. Giá thành và giá bán: Giá bán than bình quân thực hiện: 1. 028. 706 đồng/tấn, bằng 100% kế hoạch. Giá thành tiêu thụ than bình quân: 981 615 đồng/tấn, bằng 98% kế hoạch. Giá bán xi măng bình quân thực hiện: 853 467 đồng/tấn, bằng 97% kế hoạch. Giá thành tiêu thụ xi măng bình quân: 899.705 đồng/tấn, bằng 101% kế hoạch.     Lợi nhuận trước thuế ước thực hiện lãi 8 tỷ đồng. Trong 5 tháng đầu năm 2014 tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng sự khó khăn chung của nền kinh tế. Sản xuất của các doanh nghiệp trong khu vực chưa hồi phục, dẫn đến nhu cầu sử dụng than của khách hàng giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2013, tiêu thụ xi măng chưa đạt được theo tiến độ kế hoạch. Dưới sự chỉ đạo, giúp đỡ của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam, sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể CBCNV, Tổng công ty đã tập trung chỉ đạo quyết liệt đến các đơn vị trong Tổng công ty triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp nhằm sớm khắc phục những hạn chế, vượt qua thách thức, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi kế hoạch năm 2014. Kết quả thực hiện 5 tháng đầu năm 2014, Tổng công ty đạt được như sau: Sản xuất than: Các chỉ tiêu dự kiến thực hiện đạt thấp hơn so với tiến độ kế hoạch Tập đoàn giao, cụ thể: Than nguyên khai đạt 41%, tiêu thụ than đạt 33%, bóc đất đá đạt 29%. Sản lượng than tiêu thụ cho các hộ xi măng và hộ khác đạt thấp là do ảnh hưởng của nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài, thời tiết mưa nhiều. Sản xuất của các doanh nghiệp trong khu vực chưa hồi phục, dẫn đến nhu cầu dùng than của khách hàng giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2013.  Sản xuất và tiêu thụ xi măng: Do thời gian trong 5 tháng đầu năm 2014 có nhiều ngày nghỉ Tết Nguyên đán đồng thời do khó khăn chung của nền kinh tế cả nước, đặc biệt là sự trầm lắng của thị trường bất động sản, nên nhu cầu về xi măng thấp. Tình hình tiêu thụ xi măng càng khó khăn hơn khi thị trường xi măng trong nước cung vượt xa cầu, các địa phương thực hiện cân quá tải đối với phương tiện vận chuyển đường bộ...Trước tình hình đó các đơn vị sản xuất xi măng trong Tổng công ty đã tích cực đẩy mạnh công tác tiếp thị và quảng bá sản phẩm để có thể tiêu thụ tối đa các sản phẩm xi măng. Thời gian qua với sự cố gắng nỗ lực vượt qua khó khăn, các đơn vị sản xuất xi măng của Tổng công ty đã sản xuất và tiêu thụ đạt 36% kế hoạch năm bằng 102% so với cùng kỳ năm 2013, kết quả sản xuất kinh doanh tương đối khả quan. Sản xuất kinh doanh khác: Trong điều kiện còn nhiều khó khăn chung của nền kinh tế kéo theo các nhu cầu về tiêu dùng, nhu cầu về sản xuất đều giảm. Song, kết quả kinh doanh của khối sản xuất kinh doanh khác trong 5 tháng đầu năm phát triển tương đối ổn định, thực hiện theo tiến độ kế hoạch đã giao, đảm bảo việc làm và thu nhập cho công nhân cán bộ, bảo toàn và phát triển vốn sản xuất kinh doanh. Kết quả thực hiện khoán quản trị sản xuất kinh doanh năm 2013: Giá thành tiêu thụ than bình quân đạt 981. 615 đồng/tấn, bằng 98% kế hoạch. Các yếu tố công nghệ, chi phí ảnh hưởng tới giá thành, kết quả sản xuất kinh doanh năm 2013 so với Kế hoạch Tập đoàn giao như sau: Các yếu tố công nghệ làm giảm giá thành: 66, 9 tỷ đồng. Các yếu tố chi phí đầu vào làm tăng chi phí 15,9 tỷ đồng: Trong đó giá nhiên liệu giảm được 6,5 tỷ đồng. Chế độ người lao động tăng 1,4 tỷ đồng:  Trong đó bảo hiểm xã hội, Y tế do tăng lương từ 1 tháng 7 làm tăng chi phí 1,1 tỷ đồng; Phụ cấp khu vực tăng 0,3 tỷ đồng. Chi phí khác tăng 49 tỷ đồng: Trong đó Thuế tài nguyên tăng 22,5 tỷ đồng; Chi phí thăm dò tăng 5,7 tỷ đồng; Thuế sử dụng đất tăng 5,9 tỷ đồng; chi phí bơm nước tăng 7,8 tỷ đồng; chi phí nắn suối, làm đường để mở rộng bãi thải và khai trường tăng 5,1 tỷ đồng. Theo kế hoạch Tập đoàn TKV giao tiết kiệm chi phí 5% với tổng số giá trị tiết giảm là - 88 tỷ đồng trong sản xuất than, hết năm tài chính quyết khoán Tập đoàn giảm trừ khoản tiết kiệm - 31,6 tỷ đồng do đặc thù công ty than Khánh Hòa đang khai thác trong điều kiện khó khăn, như vậy số còn phải tiết kiệm theo Tập đoàn giao là - 56 tỷ, kết quả khoán sản xuất than Tổng công ty bội chi 19,3 tỷ, như vậy giá trị tiết giảm Tổng công ty thực hiện được - 36,7 tỷ đồng. Thực hiện khoán của các đơn vị sản xuất than: Tiêu biểu nhất là Công ty than Núi Hồng VVMI: đã sản xuất và tiêu thụ 558. 414 tấn than/ kế hoạch 550. 000 tấn đạt 101,53% kế hoạch.Đất đá bóc thực hiện 461. 365 m3/ KH 450 000m3 đạt 102,5%. Hệ số đất bóc thực hiện 0,85 m3/TNK/ KH 0,84 m3/TNK. Giá thành tiêu thụ thực hiện 462 615 đồng/tấn/ kế hoạch 478. 075 đồng/ tấn bằng 89% kế hoạch. Công ty đã thực hiện giảm được định mức về phụ tùng thay thế là -2,6 tỷ đồng; nhiên liệu -2,9 tỷ đồng, động lực -1,8 tỷ đồng, Chi phí SCTX tăng định mức 658 triệu đồng. Các chi phí sản xuất khác Công ty thực hiện đạt kế hoạch. Thực hiện tiết kiệm chi phí: Tổng công ty giao đơn vị tiết kiệm trong sản xuất than là -11,5 tỷ đồng, đơn vị thực hiện tiết kiệm được - 7 tỷ đồng đạt 60% kế hoạch tiết kiệm chi phí. Lợi nhuận thực hiện đạt 57,3 tỷ đồng/ kế hoạch 33,5 tỷ đồng bằng 171% kế hoạch, nguyên nhân tăng lợi nhuận chủ yếu là do tiêu thụ tăng được phẩm cấp so với kế hoạch là 14 tỷ đồng và do tăng được sản lượng tiêu thụ so với kế hoạch.
Công ty than Na Dương: Sản xuất và tiêu thụ 470. 056 tấn than/ kế hoạch 520. 000 tấn bằng 90,4% kế hoạch. Đất đá bóc thực hiện 6. 083 738m3/ KH 5. 900 000m3 đạt 103% kế hoạch. Hệ số đất bóc thực hiện 12,34 m3/TNK/ KH 10,69 m3/TNK bằng 115% kế hoạch. Giá thành tiêu thụ thực hiện 904. 734 đồng/tấn/ kế hoạch 749 171 đồng/ tấn bằng 120% kế hoạch. So sánh với giá thành công đoạn giao thì một số chi phí thực hiện định mức như sau: Yếu tố vật liệu giảm - 8,7 tỷ đồng (chủ yếu là lốp ô tô giảm), điện năng giảm-2,8 tỷ đồng, nhiên liệu tăng 12,2 tỷ đồng.
Việc thực hiện khoán các đơn vị sản xuất xi măng: Năm 2013 công ty cổ phần xi măng La Hiên thực hiện định mức khá tốt, phụ gia đưa vào sản xuất thực hiện cao hơn kế hoạch việc này làm giảm đáng kể tiêu hao nguyên vật liệu (Định mức thạch cao giảm với khối lượng là 273 tấn tương đương với giá trị giảm là 0,273 tỷ đồng; phụ gia tăng 2.146 tấn tương đương với giá trị tăng là 0,241 tỷ đồng). Công ty đã chủ động tìm nguồn phụ gia (đá cao silic) đưa vào sản suất xi măng thay xỉ lò cao nhằm nâng cao chất lượng clinker, làm màu xi măng đẹp đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng; vật liệu dễ nghiền do đó làm giảm tiêu hao điện năng, đồng thời tăng năng suất máy nghiền và tăng độ mịn xi măng. Do đó các nguyên vật liệu như đá vôi, đất sét , than, thay đổi do thay đổi thành phần hóa học trong nguyên liệu. Công ty cổ phần xi măng Tân Quang, năm 2013 Công ty thực hiện tiết kiệm: 763 triệu đồng, chi phí than giảm 17,3 tỷ đồng. Do nguồn nguyên liệu cho quá trình sản xuất của Công ty xi măng Tân Quang cũng chưa thực sự ổn định, hàm lượng một vài chất trong nguyên liệu chưa thật sự tốt nên dẫn đến chất lượng clinker chưa cao. Mác clinker còn phụ thuộc vào lượng phụ gia đưa vào sản xuất PCB30 thấp hơn kế hoạch . Đơn vị đã dùng chất phụ gia trợ nghiền nên lượng phụ gia đưa vào sản suất xi măng PCB 40 đạt kế hoạch. (Định mức thạch cao giảm với khối lượng là 5108,45 tấn tương đương với giá trị giảm là 4,1 tỷ đồng; phụ gia tăng 1069,95 tấn tương đương với giá trị tăng là 0,147 tỷ đồng; phụ gia trợ nghiền tăng 1,8 tỷ đồng). Thực hiện định mức than nung clinker giảm so với kế hoạch nên lượng than tiêu hao cho sản xuất giảm 486 tấn tiết kiệm chi phí than so với kế hoạch là 17,386 tỷ đồng do đơn vị duy trì được lò hoạt động ở trạng thái ổn định đạt năng suất. Công ty đã tìm được giải pháp giảm nhiệt lãng phí trong quá trình nung luyện và sử dụng than cám 4A Núi Hồng thay cho than cám 3B Núi Hồng để nung clinker. Sau khi đốt thử cám 4A thay cho 3B, đến nay chất lượng clinker vẫn ổn định và góp phần làm giảm chi phí cho một tấn sản phẩm.(Tỷ lệ dùng than trung bình trong năm 2013 là: 3B NH 18%,  4A NH 36%, 4B KH 38% và 8% 5A KH).
Tại Công ty cổ phần xi măng Quán Triều, sản lượng xi măng tiêu thụ mới đạt 556. 883 tấn/KH 700.000 tấn, bằng 80% KH năm. Công ty cũng đã có rất nhiều cố gắng phấn đấu làm giảm lỗ được tổng số 15,7 tỷ đồng, trong đó: do giá bán tăng: 2,4 tỷ đồng; chi phí phụ tùng thay thế giảm: 2,1 tỷ đồng; chi phí than giảm: 11 tỷ đồng; chi phí tài chính giảm 2,4 tỷ đồng. Nguyên nhân bội chi còn lớn chủ yếu do công tác quản lý vận hành thiết bị còn để xảy ra nhiều sự cố, dẫn đến phải dừng lò sửa chữa do vậy thời gian hoạt động của thiết bị không đạt kế hoạch đã làm tăng chi phí.
Khối các đơn vị sản xuất kinh doanh tổng hợp: Tổng doanh thu thực hiện doanh thu sản xuất kinh doanh khác đạt 1. 307 tỷ đồng /KH 1.289 tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch năm. Kết quả sản xuất kinh doanh lãi 6,8 tỷ đồng/ KH 11 tỷ đồng, bằng 62% KH năm, trong đó có các Công ty hoàn thành kế hoạch lợi nhuận như: Công ty CP Cơ khí và thiết bị áp lực – VVMI: Tổng doanh thu thực hiện: 375,2 tỷ đồng/ KH 340 tỷ đồng bằng 110% kế hoạch năm. Kết quả sản xuất kinh doanh lãi 2,76 tỷ đồng/KH 2,1 tỷ đồng bằng 131% kế hoạch năm, công ty thực hiện tiết kiệm chi phí làm tăng lãi 0,134 tỷ đồng. Công ty CP SX&KD vật tư thiết bị – VVMI: Tổng doanh thu thực hiện: 417,7 tỷ đồng/ KH 400 tỷ đồng bằng 104% kế hoạch năm. Kết quả sản xuất kinh doanh lãi 3,029 tỷ đồng/KH 1,7 tỷ đồng bằng 178% kế hoạch năm; Đơn vị thực hiện tiết kiệm chi phí làm tăng lãi 0,842 tỷ đồng. Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng & Kinh doanh tổng hợp: Tổng doanh thu thực hiện: 113 tỷ đồng/ KH 75 tỷ đồng bằng 151% kế hoạch năm. Kết quả sản xuất kinh doanh lãi 2 tỷ đồng/KH 1,6 tỷ đồng bằng 125% kế hoạch năm; Đơn vị thực hiện tiết kiệm chi phí làm tăng lãi 0,15 tỷ đồng. Trung tâm ĐD & PHCN ngành than: Tổng doanh thu kinh doanh thực hiện: 2,13 tỷ đồng/ KH 1,5 tỷ đồng bằng 142% kế hoạch năm; Điều dưỡng phục hồi chức năng thực hiện 12,79 tỷ / KH 13,27 tỷ bằng 96% kế hoạch năm. Kết quả sản xuất kinh doanh lãi 84 triệu đồng/KH 50 triệu đồng bằng 168% kế hoạch năm; Đơn vị thực hiện tiết kiệm chi phí làm tăng lãi 0,012 tỷ đồng. Công ty Cổ phần Khách sạn Thái Nguyên – VVMI. Tổng doanh thu thực hiện: 22,2 tỷ đồng/ KH 19 tỷ đồng bằng 117% kế hoạch năm. Kết quả sản xuất kinh doanh lãi 1,005 tỷ đồng/KH 0,9 tỷ đồng bằng 112% kế hoạch năm; Đơn vị thực hiện không bội chi. Công ty Cổ phần  Cơ khí mỏ Việt Bắc-VVMI: Tổng doanh thu thực hiện: 105,3 tỷ đồng/KH 87 tỷ đồng bằng 121% kế hoạch năm. Lợi nhuận thực hiện 2,143 tỷ đồng/ KH năm 2 tỷ đồng bằng 107% kế hoạch năm. Tăng chi phí làm giảm lãi 96 triệu đồng. Công ty CP Đầu tư và xây dựng -VVMI: Tổng doanh thu thực hiện: 72,9 tỷ đồng/KH 65 tỷ đồng bằng 112% kế hoạch năm. Lợi nhuận thực hiện 1,402 tỷ đồng/ KH năm 1,4 tỷ đồng bằng 100% kế hoạch năm. Chi phí tăng làm giảm lãi 154 triệu đồng.
Bên cạnh những công ty và đơn vị hoàn thành tốt kế hoạch và mục tiêu vẫn còn các Đơn vị như Trung tâm xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư, Khách sạn Heritage Hà Nội, Khách sạn Mê Linh việc kinh doanh còn khó khăn nên không đạt hiệu quả, vẫn bị lỗ lớn nên đã làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh trong toàn tổng công ty.

TPKTKH Nguyễn Anh Tuấn trình bày báo cáo tổng kết- ảnh NQT
 

Từ những kết quả của công tác khoán quản trị chi phí trong năm 2013, việc thực hiện khoán quý I năm 2014: Các đơn vị đã tích cực triển khai kế hoạch phối hợp kinh doanh theo chỉ đạo của Tổng giám đốc tại Quyết định số: 29/QĐ-CMV ngày 10/01/2014 về các chỉ tiêu và giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh của Tổng công ty năm 2014.Tuy nhiên kết quả thực hiện chưa đạt kế hoạch giao. Cụ thể: Kết quả thực hiện tiết kiệm chi phí quý I/2014 của khối sản xuất than sau khi thực hiện tiết giảm 5%, song hầu hết các đơn vị sản xuất than vẫn còn bội  chi theo kế hoạch. Nhìn chung khối sản xuất xi măng quý I.2014 thực hiện có khả quan hơn so với năm trước.
Từ những kết quả và mục tiêu đã đạt được, tổng công ty đã rút ra những bài học để đánh giá thực hiện khoán chi phí của Tổng công ty về những việc đã làm được như sau : Năm 2013, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin cơ bản hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, sản xuất duy trì ổn định, việc làm và đời sống của CBCNV được đảm bảo. Sản xuất than tiếp tục đóng vai trò chủ đạo, đảm bảo đủ nguồn than cung cấp cho các nhà máy điện Cao Ngạn, Na Dương, các nhà máy xi măng trong Tổng công ty và là sự đảm bảo về tài chính trong cân đối toàn Tổng công ty. Tiêu thụ sản phẩm xi măng là nhiệm vụ trọng tâm của Tổng công ty. Trong điều kiện thị trường tiêu thụ sản phẩm xi măng cạnh tranh khốc liệt, do cung vượt cầu, cùng với chính sách của Chính phủ tập trung kiềm chế lạm pháp, ổn định kinh tế vĩ mô ...  nhưng các đơn vị sản xuất xi măng của Tổng công ty vẫn đứng vững trên thị trường và được khách hàng tín nhiệm sử dụng trong các công trình lớn.
Các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ ngoài than và xi măng trong điều kiện còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng suy giảm kinh tế nên nhu cầu về tiêu dùng, nhu cầu về sản xuất đều giảm. Sản xuất kinh doanh của khối này năm 2013 phát triển ổn định, thực hiện vượt kế hoạch giao, đảm bảo việc làm và thu nhập cho công nhân cán bộ, bảo toàn và phát triển được vốn.
Việc điều hành sản xuất phối hợp kinh doanh. Tổng công ty đã thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp theo Nghị quyết 01 NQ/CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ; chỉ đạo của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam, về đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thực hiện tiết kiệm, đảm bảo an toàn lao động, việc làm, đời sống CBCNV và hiệu quả kinh doanh. Thực hiện điều hành sản xuất một cách linh hoạt, quyết liệt và thích ứng với thị trường có nhiều biến động, sản xuất phù hợp với tiến độ tiêu thụ và sản phẩm tồn kho hợp lý. Giữ vững thị trường tiêu thụ than, xi măng hiện có, mở rộng thị trường mới nhất là sản phẩm xi măng... ổn định chất lượng than và xi măng, cung cấp đủ than cho các Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn , Na Dương  và các Nhà máy xi măng La Hiên, Quán Triều và Tân Quang.
 Công tác kế hoạch, khoán quản trị chi phí sẽ tập trung đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, điều chỉnh sản xuất phù hợp với tiêu thụ và tồn kho một cách hợp lý. Tìm các giải pháp để tiết giảm 5% chi phí. Điều hành các hoạt động SXKD linh hoạt để đảm bảo đủ việc làm và ổn định thu nhập cho người lao động. Về  cơ chế chính sách: Tổng công ty sửa đối, bổ sung, xây dựng và ban hành mới đồng bộ Điều lệ tổ chức và hoạt động, các quy chế quản lý, các định mức kinh tế kỹ thuật; các quy trình, quy định về an toàn bảo hộ lao động; phân cấp quản lý…. tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh. Việc quản lý và điều hành chi phí sẽ thực hiện kiểm soát chi phí khoán sản xuất kinh doanh tại Công ty mẹ  và các Công ty con trong Tổng Công ty. Để đảm bảo kế hoạch tài chính toàn Tổng Công ty ngay từ đầu năm đã chú trọng các biện pháp tiết kiệm chi phí khoán như hoàn thiện các định mức kinh tế kỹ thuật, đảm bảo cơ cấu và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động và nâng cao năng suất thiết bị ca máy, ngày máy. Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị xây dựng thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất than 5% trên tổng chi phí; đối với các đơn vị sản xuất xi măng tiết kiệm 5% chi phí biến đổi; đối với các đơn vị sản xuất khác tiết kiệm điện năng 10%, chi phí nhiên liệu 1,5%, chi phí chung và chi phí quản lý 8%, tăng năng suất lao động 5%. Tổng công ty đã kịp thời giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh cho các đơn vị; có những cơ chế chính sách phù hợp để giúp cho các đơn vị tự chịu trách nhiệm và chủ động trong sản xuất kinh doanh để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong năm 2013, nhiều đơn vị thực hiện tốt tiết kiệm chi phí khoán như:  Công ty cổ phần xi măng Tân Quang, Công ty cổ phần Cơ khí và Thiết bị áp lực, Công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị, Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng và Kinh doanh tổng hợp, Trung tâm điều dưỡng ngành than.
Trong công tác quản lý, Tổng công ty luôn xác định việc quản lý kỹ thuật là khâu quan trọng nhất trong công tác quản trị chi phí được Tổng công ty và các đơn vị đặc biệt quan tâm.  Các mỏ đã có nhiều cố gắng trong công tác cải tạo tuyến đường vận tải: Ở Công ty than Khánh Hòa độ dốc dọc toàn tuyến trung bình đạt 4,33%, năm 2012 là 4,55%  giảm 0,22%; năm 2011 là 4,99% giảm 0,66 năm 2010 là 6.3% giảm 1,97% . Công ty than Na Dương duy trì tốt độ dốc và chiều rộng mặt đường. Với điều kiện diện bãi thải hẹp phân tán các đơn vị đã bám sát hiện trường tìm ra những giải pháp hợp lý để có diện đổ thải duy trì được sản xuất và đảm bảo an toàn trong quá trình đổ thải.
Toàn  bộ khối lượng đất đá nổ mìn trong năm được thuê Tổng công ty Hóa chất mỏ nổ, tỷ lệ nổ mìn đạt 79,66% ( kế hoạch Tập đoàn giao đầu năm là 81,88%), trong quá trình thực hiện các đơn vị đã phối hợp tốt với bên thi công nên chất lượng nổ mìn đảm bảo, tỷ lệ nổ mìn lần 2 đạt 0,103% thấp hơn so với hợp đồng đã ký là 0,4% đã góp phần nâng cao năng suất xuất bốc. Một số chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ thực hiện tốt hơn kế hoạch Tập đoàn giao cụ thể Hệ số thu hồi than sạch toàn Tổng công ty thực hiện 92,34%/ KH 91% tăng 1,34%, tỷ lệ tổn thất đạt 6,65%/KH 7,10% giảm 0,45%, độ tro than nguyên khai đạt 33%/KH 34% giảm 1%. Công tác quản lý cơ điện có nhiều tiến bộ hơn về huy động thiết bị, tổ chức sản xuất, chuẩn bị thiết bị khá tốt từ đó đáp ứng được sản lượng bốc xúc, vận chuyển theo kế hoạch giao. Công tác quản lý thiết bị dần đi vào nề nếp. Các đơn vị sản xuất xi măng đã chuyển sang sử dụng than cám 4aNH và 5aKH đã làm giảm đáng kể về tiêu hao nhiên liệu than cho sản xuất xi măng.
Trong việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn: Sẽ điều hành, sử dụng linh hoạt các dòng tiền, đáp ứng đủ vốn cho sản xuất kinh doanh, thanh toán tương đối kịp thời các khoản nợ đến hạn cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Công tác tiền lương: Tổng công ty và các đơn vị tiếp tục hoàn thiện giãn cách tiền lương theo hướng dẫn của Tập đoàn nhằm khuyến khích lao động trong các khâu công nghệ chính, những cá nhân tích cực đóng góp lớn vào hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Việc thực hiện quy chế sắp xếp đổi mới cơ cấu, chất lượng lao động của Tập đoàn và Tổng Công ty đã đem lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng lao động, giảm được lao động phục vụ, phụ trợ, lao động yếu sức khỏe không còn đáp ứng được yêu cầu công việc. Đồng thời người lao động khi nghỉ chế độ có nguồn hỗ trợ của Tập đoàn, cảm thấy sự quan tâm của đơn vị và Tập đoàn sau thời gian làm việc có thêm nguồn hỗ trợ để tạo dựng việc làm mới hoặc giải quyết các vấn đề riêng của mỗi cá nhân.
Bên cạnh những kết quả và thành tích đã đạt được vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm cần lưu ý để chủ động khắc phục như: Điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty và các đơn vị còn nhiều khó khăn đặc biệt là trong cân đối về tài chính, tuy nhiên việc triển khai cụ thể các biện pháp tiết kiệm chi phí theo kế hoạch giao khoán và kiểm soát chi phí phát sinh ngoài kế hoạch tại một số đơn vị còn hạn chế, bị động, có tâm lý trông chờ vào sự điều chỉnh kế hoạch của Tổng công ty. Ở một số đơn vị việc cân đối điều hành sản xuất và chi phí còn hạn chế, dẫn đến điều hành chi phí so với kế hoạch giao khoán còn bị động. Một số đơn vị sự phối hợp giữa các phòng ban chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ còn hạn chế dẫn đến hiệu quả quản lý chưa được như mong muốn.Việc chấp hành cơ chế điều hành phối hợp kinh doanh, và Hợp đồng phối hợp kinh doanh ở một số đơn vị chưa nghiêm túc như việc chưa chấp hành đúng về thực hiện giá bán xi măng theo giá bán tối thiểu của Tổng công ty, chưa chấp hành nghiêm trong việc việc sử dụng hàng nội bộ như còn mua vỏ bao xi măng ngoài...
Sự phối hợp phòng kỹ thuật - nghiệp vụ trong Cơ quan Tổng công ty và với các đơn vị cũng thiếu chặt chẽ, chưa linh hoạt kịp thời. Việc kiểm tra, giám sát các đơn vị chưa thực hiện thường xuyên và sâu sát dẫn đến các mặt quản lý ở các đơn vị còn hạn chế và có nhiều sai sót, các phòng ban từng lĩnh vực cần nghiêm túc rút kinh nghiệm và chủ động trong việc kiểm tra và hướng dẫn các đơn vị làm đúng theo quy định của Nhà nước, Tập đoàn và Tổng công ty. Một số đơn vị chỉ giải quyết từng vụ việc và từng giai đoạn, mà chưa chú trọng hoàn thiện hệ thống quản trị nội bộ một cách bền vững, nề nếp, nghiệp vụ quản trị chi phí ở phân xưởng còn yếu: Số liệu cập nhật báo cáo chưa thật chuẩn xác; sự phối hợp giữa các phòng Kỹ thuật, Kế hoạch, Kế toán, LĐTL chưa nhịp nhàng; việc thường xuyên phân tích và đánh giá thực hiện khoán, quản trị chi phí các đơn vị làm chưa tốt. Việc triển khai giao khoán đến phân xưởng, tổ đội ở các đơn vị sản xuất than và xi măng còn hạn chế, các đơn vị mới chủ yếu quan tâm đến khoán, nhưng việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát, phân tích và điều hành chi phí còn yếu, chưa tạo động lực tiết kiệm chi phí. Thực hiện chế độ báo cáo ở nhiều đơn vị còn chậm, chưa chính xác và chưa đúng biểu mẫu mà Tổng công ty quy định. Các đơn vị đều không đánh giá, phân tích được kết quả thực hiện khoán quản trị chi phí; chưa đưa ra được nguyên nhân, tác nhân gây tăng, giảm chi phí và các biện pháp đã thực hiện để kiểm soát chi phí.
Trên đây là những phân tích một cách tổng quát kết quả đã đạt được và những khuyết điểm hạn  chế còn tồn tại trong quá trình điều hành và chỉ đạo trong sản xuất kinh doanh của tổng công ty sau khi kết thúc năm kế hoạch 2013 và 5 tháng đầu năm 2014. Để làm tốt công tác khoán và quản trị chi phí năm 2014 với những tháng còn lại cần phải tăng cường một số biện pháp như sau: Nhận định tổng quát năm 2014, kinh tế toàn cầu, trong nước tuy có nhiều khởi sắc, nhưng tiếp tục vẫn có nhiều khó khăn, đối với Tổng công ty do điều kiện khai thác của Tổng công ty ngày càng xuống sâu và xa hơn, chi phí tăng, nhu cầu vốn đầu tư của Tổng công ty lớn, Tình hình đó sẽ tác động, ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Mục tiêu chung năm 2014 là, đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đặc biệt là sản phẩm than và xi măng; quản lý chặt chẽ chi phí; đảm bảo việc làm, đời sống CBCNV và hiệu quả kinh doanh. Sau kết quả của 5 tháng đầu năm cho thấy nhiệm vụ 7 tháng còn lại của năm 2014 là rất nặng nề, có nhiều khó khăn và thách thức nhưng cơ hội phát triển là rất lớn. Muốn thực hiện tốt cần phải có các giải pháp đồng bộ như: Tăng cường quản lý tài nguyên, kỹ thuật cơ bản, các chỉ tiêu công nghệ: Quản lý chặt chẽ tài nguyên than, trên cơ sở nhu cầu tiêu thụ, bộ phận kỹ thuật phải đảm bảo công nghệ và trình tự khai thác hợp lý, phải chủ động về khối lượng và chất lượng, giảm tổn thất trong khai thác và tăng tỷ lệ thu hồi than sạch từ than nguyên khai.Tăng cường quản lý các chỉ tiêu công nghệ, các chỉ tiêu công nghệ, chất lượng than khai thác của các đơn vị phải được tính trên cơ sở các thông số địa chất và chất lượng than, điều kiện kỹ thuật mỏ phù hợp với thực tế, công nghệ theo hướng tiến tiến, không được xấu hơn kế hoạch đã giao. Trong quá trình khai thác không được phát sinh thêm đất đá lẫn than mà phải khai thác chọn lọc, loại thải đá thành than nguyên khai đảm bảo chất lượng theo quy định.Có biện pháp giảm tối đa khối lượng phát sinh ngoài kế hoạch như xử lý đất công nghệ, bùn moong… Đối với Công ty than Khánh Hòa có điều kiện khai thác khó khăn nhất cũng phải chủ động có các giải pháp công nghệ, quản lý, điều hành để tiến tới giá thành không vượt giá bán trên thị trường. Hoàn thiện hệ thống sàng tuyển, chế biến than để nâng cao chất lượng, hệ số thu hồi than. Tổ chức sàng tuyển, chế biến nâng cao chất lượng than thu hồi từ đất đá lẫn than ở Công ty than Khánh Hòa để có đủ nguồn than cám 6b cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện An Khánh.Các đơn bị sản xuất than áp dụng đồng bộ hóa thiết bị xúc bốc vận tải để phát huy công suất sử dụng, giảm chi phí sản xuất; Bộ phận cơ điện luôn theo dõi sát sao tình hình huy động thiết bị của các đơn vị, có kế hoạch điều chuyển thiết bị phù hợp với khối lượng công việc của từng mỏ.
Đối với các đơn vị sản xuất xi măng: Các đơn vị tập trung mọi nguồn lực duy trì sản xuất ổn định, tuân thủ quy trình công nghệ, tăng cường công tác bảo dưỡng, sửa chữa, giám sát chặt chẽ các công đoạn sản xuất trong dây truyền phát hiện sớm các sự cố có thể xảy ra để có các biện pháp xử lý kịp thời. Phấn đấu thực hiện đạt năng suất lò và mác Clinker theo công suất thiết kế. Kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào, giữ phối liệu ổn định như thiết kế, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chất lượng bột liệu không ổn định để có biện pháp cải tiến. Tập trung mọi giải pháp trong công nghệ để sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu than Núi Hồng và Khánh Hòa.
Đối với các đơn vị sản xuất kinh khác: Thực hiện kinh doanh đảm bảo an toàn về vốn, thu hồi nợ nhanh, có hiệu quả và đúng pháp luật. Các đơn vị thương mại cung ứng vật tư thiết bị phải đảm bảo đủ số lượng, chất lượng kịp thời cho sản xuất, đi sâu và nghiên cứu sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm triệt để tiết kiệm chi phí trong việc sản xuất các sản phẩm, dịch vụ phục vụ.
Tiếp tục hoàn thiện công tác điều hành sản xuất – tiêu thụ, quản trị chi phí. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán quản trị chi phí, tăng cường kỷ luật trong điều hành và giám sát hiệu quả cụ thể: Đối với Tổng công ty: cần rà soát, hoàn thiện cơ chế quản lý trong các lĩnh vực với trung tâm là cơ chế khoán quản trị chi phí nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý tạo động lực mạnh mẽ để tăng hiệu quả kinh doanh, xây dựng cơ chế điều hành kế hoạch phối hợp kinh doanh. Đối với khối sản xuất than Tổng công ty sẽ xây dựng cơ chế giao khoán chi phí sản xuất thống nhất giữa các đơn vị .Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, trao đổi với các đơn vị, kịp thời nắm bắt tình hình, các khó khăn vướng mắc để có các biện pháp phối hợp giải quyết kịp thời nhanh chóng phù hợp với diễn biến thị trường và các quy định hiện hành.
Đối với các Công ty con và đơn vị trực thuộc: tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy chế khoán, quy trình thực hiện khoán theo chỉ đạo của Tập đoàn và Tổng công ty, rà soát và ban hành các định mức kinh tế kỹ thuật theo hướng tiên tiến, đáp ứng yêu cầu tăng năng suất, giảm giá thành trong tình hình mới. Đối với Công ty than Khánh Hòa cần xây dựng định mức giao khoán phù hợp với điều kiện thực tế để có cơ sở giao khoán hợp lý từ đó thực hiện thưởng phạt tạo động lực tích cực trong giao khoán. Xây dựng các phương án sản xuất với chi phí, giá thành thấp nhất phù hợp giá mua than của Tập đoàn (đối với các đơn vị sản xuất than), đối với các đơn vị sản xuất xi măng và SX kinh doanh khác thì phù hợp với giá cả thị trường. Tổ chức cập nhật, theo dõi thực hiện chi phí của các công trường, phân xưởng và toàn đơn vị hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, kiểm tra, nghiệm thu thanh toán, phân tích việc thực hiện chi phí để có các giải pháp điều hành chi phí kịp thời. Đảm bảo thực hiện được phương án tiết giảm chi phí mà đơn vị đã đăng ký với Tổng Công ty.
Các biện pháp điều hành, quản trị chi phí: Tích cực áp dụng sáng kiến, cải tiến tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, sử dụng vật tư, vật liệu, phụ tùng, động lực, quản lý chặt chẽ công tác thuê ngoài và các chi phí đầu vào khác, sử dụng triệt để vật tư thu hồi và tồn đọng chậm luân chuyển. Tổ chức sản xuất hợp lý, nâng cao năng lực sản xuất và công tác chỉ huy điều hành sản xuất – tiêu thụ để tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, đồng thời tăng thời gian hữu ích làm ra sản phẩm và giảm thiểu tối đa lao động trong các dây chuyền phục vụ phụ trợ. Tiếp tục tăng cường công tác trả lương cho khối gián tiếp bằng hình thức giao khoán. Rà soát tối ưu hóa các chỉ tiêu công nghệ để tiết giảm chi phí ( nhưng không làm ảnh hưởng tới chuẩn bị sản xuất cho kỳ sau, đảm bảo đầy đủ các điều kiện về an toàn VSLĐ và chế độ cho người lao động. Tăng cường nâng cao tỷ lệ tận thu, thu hồi than, đảm bảo giữ và phấn đấu thực hiện vượt phẩm cấp than so với chỉ tiêu kế hoạch đã được rà soát ban hành theo kế hoạch. Tập trung nghiên cứu tìm các giải pháp tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh và trong ĐTXDCB, kiên quyết đưa khỏi giá thành các chi phí không hợp lý. Chỉ đạo mua tập trung các vật tư chiến lược thông qua hình thức đấu thầu, quản lý sử dụng vật tư theo đúng quy định, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các đơn vị sản xuất than và xi măng nên mạnh dạn sử dụng phụ tùng vật tư trong nước sản xuất được để hạ giá thành. Các đơn vị sử dụng các sản phẩm dịch vụ của nhau, nhưng phải đảm bảo giá cả cạnh tranh với sản phẩm của các đơn vị ngoài Tổng Công ty. Huy động vốn cho sản xuất kinh doanh và đầu tư một cách có hiệu quả, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh thông qua các giải pháp vay, thuê mua, thuê hoạt động… để thực hiện các công đoạn sản xuất bằng nguồn vốn xã hội mà đơn vị vẫn đảm bảo chủ động quản lý một cách thống nhất hiệu quả. Tiếp tục cơ cấu lại lực lượng lao động phụ trợ, phục vụ và lao động giản tiếp phải giảm từ 3 – 5% so với lao động hiện có, coi việc giảm cơ cấu lao động phục vụ phụ trợ, tăng năng suất lao động là chỉ tiêu bắt buộc xét thi đua hoàn thành kế hoạch hàng năm của các đơn vị. Quản lý chặt chẽ công tác thuê ngoài, các công việc thuê ngoài yêu cầu các đơn vị phải thực hiện đấu thầu theo đúng các quy định của Tập đoàn và Tổng Công ty. Làm tốt được công tác khoán quản trị chi phí, tạo ra bước chuyển biến mạnh sẽ thực sự là động lực để tổng công ty ngày càng hoàn thiện và phát triển một cách bền vững trong cơ chế mở và hội nhập sâu của nền kinh tế trong nước với thế giới trong giai đoạn hiện tại và tương lai.


 


                                                                         Nguyễn Anh Tuấn
                                                      Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc- Vinacomin
                                                                        Ảnh kèm theo bài của NQT


 

Số lượt đọc: 4239 - Cập nhật lần cuối: 08:52 | 16/06/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ