CÔNG TY THAN NA DƯƠNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI, GÓP PHẦN VÀO SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC ( Thời kỳ 1986 – 2014)

 


                    Nguyễn Quang Tình biên tập

I - Công ty than Na Dương bước vào thời kỳ đổi mới
(1986 - 1990)

Bước vào năm 1986, năm đầu của kế hoạch 5 năm 1986 - 1990, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội. Đời sống của nhân dân lao động, nhất là công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, những người về hưu cực kỳ khó khăn. Trong khi đó bọn gian thương, đầu cơ buôn lậu, bọn làm ăn bất chính trở nên giàu có, nguyên tắc phân phối theo lao động, công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng.
Thực tiễn đó đòi hỏi Đảng ta phải có bước đi mới. Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12/1986 đã vạch rõ những sai lầm, khuyết điểm, đồng thời nhấn mạnh muốn khắc phục những sai lầm, khuyết điểm và đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta cần phải đổi mới về mọi mặt, trước hết là đổi mới tư duy. Đặc biệt là tư duy kinh tế, là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với nước ta và phù hợp với xu thế chung của thời đại. Đại hội rút ra các bài học kinh nghiệm quan trọng và đề ra mục tiêu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định tình hình kinh tế - xã hội; tiếp tục xây dựng những tiền đề cấp thiết cho việc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Đại hội đề ra nhiệm vụ chủ yếu về kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 là xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Đại hội VI của Đảng như luồng gió mới thổi đến mọi miền đất nước, đánh dấu một thời kỳ mới, thời kỳ đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất kế hoạch hóa tập trung sang sản xuất theo cơ chế thị trường, tạo nền kinh tế đất nước một hướng đi mới đầy triển vọng.
Đối với những người thợ mỏ Na Dương, từ khi ra đời đến nay lập trường tư tưởng luôn kiên định, vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng càng hân hoan đón luồng gió mới ấy.
Trong những tháng năm đầu của thời kỳ chuyển đổi cơ chế, đời sống của công nhân, cán bộ mỏ Na Dương vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Sau một thời gian dài bao cấp, quản lý tập trung, nên thiết bị xe máy xuống cấp, phụ tùng sửa chữa thay thế khan hiếm, sản xuất gặp khó khăn. Hệ số bóc đất đá cao, do mỏ không có thời gian mở rộng, mà chủ yếu tập trung cải tạo là chính. Tuy vậy, mỏ vẫn không quên nhiệm vụ kỹ thuật cơ bản đầu tiên của ngành khai thác là thăm dò bổ sung, nâng cấp độ thăm dò than. Trong điều kiện càng bóc xúc nhiều đất đá càng lỗ, sản xuất của mỏ chỉ có một mặt hàng duy nhất (than) bán cho một khách hàng duy nhất (xi măng Bỉm Sơn), nên thiếu sự cạnh tranh lành mạnh. Trong khi đó, giá bán 1 tấn than không hợp lý. Hàng năm mỏ thường xuyên rà soát định mức kinh tế kỹ thuật và áp dụng sáng kiến xúc than chọn lọc, do đó nâng được tỷ lệ thu hồi than từ 50% lên 80%, nâng cao hiệu quả kinh tế. Mỏ đề xuất chấp nhận cho khách hàng vào cùng tính toán các chỉ tiêu, định mức kinh tế, kỹ thuật đầu vào của sản xuất 1 tấn than để có giá bán hợp lý hơn. Nhưng khách hàng từ chối tham gia. Vì thế kế hoạch thu chi tài chính trong điều kiện thực hiện cơ chế bù lỗ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Bối cảnh giá bán thấp, phải bù lỗ, mỏ dù đã có nhiều cố gắng, song cũng khó đẩy được đời sống vật chất, tinh thần của người lao động lên được.
Tuy vậy, càng trong khó khăn, người thợ mỏ Na Dương càng thể hiện được bản lĩnh kiên cường, tinh thần đoàn kết, đồng tâm, nêu cao tính tự lực, tự cường, vượt khó khăn, thử thách, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Ngày 30-9-1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ lần thứ XIV được tổ chức. 120 đảng viên ưu tú đại diện cho 196 đảng viên về dự. BCH Đảng bộ được bầu gồm 21 đồng chí, đồng chí Nguyễn Đức Am được bầu làm Bí thư; đến tháng 3-1988 Tỉnh uỷ Lạng sơn quyết định đồng chí Lương Thanh Thuận được tái cử giữ chức Bí thư Đảng bộ, đồng chí Nguyễn Đức Am có quyết định phó giám đốc mỏ.
Nghị quyết của Đại hội xác định rõ: Càng khó khăn, càng phải quyết tâm duy trì sản xuất ổn định. Đồng thời tăng cường các mặt quản lý thật tốt, đề ra các giải pháp hữu hiệu khắc phục khó khăn... Đảng bộ cũng kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, không dao động trước thử thách, khó khăn, quyết hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tháng 10-1986, Liên hiệp than Hòn Gai có sự thay đổi về tổ chức, mỏ không thuộc Liên hiệp nữa, mà trở thành một đơn vị thành viên trực thuộc Công ty than III, do đồng chí Nguyễn Châu làm giám đốc.
Sau gần 6 năm trực thuộc Liên hiệp các xí nghiệp than Hòn Gai, giai đoạn đồng chí Đinh Văn Lạp làm Giám đốc, mỏ đã học tập được nhiều bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành sản xuất, đồng thời cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên hiệp về đầu tư và nâng cao đời sống người lao động. Trong thời gian đó, dù còn gặp khó khăn, Liên hiệp đã quan tâm đến mỏ ở vùng sâu, vùng xa mà giành sự ưu ái để mỏ sớm vượt qua khó khăn, như thông qua kế hoạch xuất khẩu than, đổi hàng hóa; đặc biệt là giúp đỡ về nhu yếu phẩm để bù vào bữa ăn giữa ca cho người lao động, cải thiện đáng kể đời sống cho họ. Các thế hệ thợ mỏ Na Dương luôn nhớ về những năm tháng trực thuộc Liên hiệp, tình đoàn kết giữa hai đơn vị tiếp tục được duy trì, vun đắp.
Để đáp ứng yêu cầu sản xuất của thời kỳ đổi mới, mỏ kiện toàn bộ máy các phòng, ban, phân xưởng.
Các phòng, ban gồm:
- Phòng kỹ thuật.
- Phòng tài vụ.
- Phòng cung tiêu.
- Phòng cơ điện.
- Phòng kế hoạch.
- Phòng tổ chức cán bộ.
- Phòng lao động tiền lương.
- Phòng điều độ sản xuất.
- Phòng hành chính.
- Phòng KCS.
- Phòng bảo vệ, tự vệ.
- Phòng an toàn.
- Trạm y tế.
- Ngành đời sống.
- Ban thi đua tuyên truyền văn hóa và thể dục thể thao.
- Ban quản lý công trình xây dựng cơ bản mở rộng.
- Khối đảng, đoàn (gồm các văn phòng Đảng ủy, Công đoàn, Đoàn thanh niên).
Các công trường, phân xưởng:
- Công trường khai thác.
- Công trường kiến thiết cơ bản.
- Công trường vật liệu I.
- Công trường vật liệu II.
- Công trường cầu đường.
- Phân xưởng vận tải.
- Phân xưởng cơ điện.
- Đội than nhặt.
- Đội sản xuất gốm sứ.
- Đội sản xuất đá xẻ.
- Đội sản xuất gạch lát nền.
Cùng với việc kiện toàn lại bộ máy các phòng ban, công trường, mỏ tiếp tục được đầu tư tăng cường thiết bị và công nhân kỹ thuật nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao: Cung cấp đầy đủ, ổn định than cho Nhà máy xi măng Bỉm Sơn trong thời gian Nhà máy đạt tối đa công suất thiết kế để cung cấp đủ xi măng cho Nhà máy thủy điện Hòa Bình đang trong thời kỳ thi công cao điểm và các công trình xây dựng khác.
Cũng trong thời gian này, khi chuyên gia Liên Xô về ở và công tác tại mỏ, đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho mỏ tăng cường giàn thiết bị khoan, gạt, bốc xúc, vận tải đồng bộ và hiện đại theo hình thức đầu tư trực tiếp. Ban Kiến thiết lập tờ trình, dự toán (có ý kiến của chuyên gia Liên Xô), thiết bị được chuyển thẳng từ Liên Xô về cảng Hải Phòng, Đà Nẵng. Ban Kiến thiết cùng chuyên gia trực tiếp nhận tại cảng. Các đợt nhận thiết bị, mỏ cử công nhân vận hành đi vận chuyển về, Ban Kiến thiết bàn giao sang mỏ. Chính vì có chuyên gia trực tiếp tham gia vào công tác đầu tư thiết bị nên việc tiếp nhận thiết bị của mỏ khá suôn sẻ, thuận lợi.
Thiết bị khoan, gạt: Từ 1986-1990, mỏ tiếp nhận 9 máy khoan, trong đó khoan KD 4 cái, khoan xoay 3 cái, khoan giã 2 cái (nhận từ Hải Phòng và Quảng Ninh); 4 máy gạt (Fiat 2 cái, Komatsu 2 cái), nhận từ Hải Phòng.
Thiết bị bốc xúc: Sau khi thanh lý và điều chuyển đi toàn bộ máy xúc loại dung tích gàu nhỏ, hoạt động không đáp ứng yêu cầu tăng sản lượng bốc xúc đất đá và khai thác than, ngoài 2 máy xúc EKG 4,6m3 và EKG 5A1, đầu năm 1987 và năm 1989, mỏ tiếp tục nhận và lắp đặt thành công 2 máy xúc EKG 5A2 và EKG 5A3. Đây cũng là một thành tích của công nhân, cán bộ mỏ gần 30 năm xây dựng, sản xuất, trưởng thành, từ thủ công lên bán cơ khí, lên cơ khí và hiện đại hóa như ngày nay. Công nhân, cán bộ mỏ đã làm chủ được công nghệ, kỹ thuật hiện đại, được các chuyên gia Liên Xô đánh giá cao. Thiết bị bốc xúc giai đoạn này mỏ còn nhận thêm 2 máy xúc gàu lật E0 3322A và 2 máy cào vơ IHb2 phục vụ công tác tiêu thụ sản phẩm.
Để phục vụ nhiệm vụ sản xuất than ngày càng xuống sâu hơn, từ 1986-1990, ngoài các máy bơm đang sử dụng, mỏ bổ sung thêm 5 máy bơm 8X6K và 1 máy bơm loại công suất 90m3/h. Đây cũng là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và nan giải, làm đau đầu các nhà quản lý và chuyên gia. Vì nước moong than Na Dương có chứa độ a xít cao, nên các bộ phận bằng sắt của máy bơm ngâm trong nước rất chóng bị ăn mòn, nhất là giỏ bơm và ống bơm. Các năm sau mỏ có sáng kiến dùng giỏ gỗ thay thế, rất hiệu quả, song ống bơm vẫn chưa khắc phục được. Cuối cùng mỏ được trang bị máy bơm chống a xít ăn mòn thì các hiện tượng trên mới khắc phục được.
Khi được trang bị các máy xúc có dung tích gàu lớn, mỏ cũng được trang bị các thiết bị chuyên chở lớn hơn. Những năm của thập kỷ 80, tuy đã có máy xúc dung tích gàu lớn, nhưng xe vận tải vẫn là loại nhỏ, nên không đồng bộ. Xe chóng bị hỏng, do chở quá tải, đường xấu, hay bị hỏng xatxi. Hỏng tới mức có người gán cho lái xe mỏ là những "dũng sỹ diệt xe cơ giới"(?). Tình trạng thiếu đồng bộ đó kéo dài tới 7-8 năm. Mãi tới giai đoạn này, ngoài các xe Kpa3 hiện có, mỏ nhận thêm 10 xe Kpa3 mới; cuối năm 1986, nhận 5 xe Benla 540 cũ, từ Quảng Ninh chuyển đến; các năm 1987-1988 được đầu tư thêm 10 xe Benla (5 xe Benla 540, 5 xe Benla 7522). Hầu hết các xe này được chở rời về mỏ rồi mới lắp (do hệ thống giao thông cầu cống không đáp ứng, xe nguyên chiếc không qua được). Nâng tổng số đầu xe của mỏ lên gần 100 cái. Cùng với xe vận tải, mỏ còn được đầu tư 3 xe cẩu (Bò ma 12 tấn, Kra 16 tấn và tự hành 40 tấn).
Do tốc độ sản xuất tăng nhanh, mật độ xe máy nhiều lên, lượng tiêu thụ nhiên liệu lớn, mỏ đầu tư thêm 2 xe téc (Zin và Bò ma).
Ngoài xe máy phục vụ dây chuyền sản xuất chính, mỏ nhận thêm các loại xe máy phục vụ xây dựng cơ bản và các nhiệm vụ khác. Gồm: 4 máy nghiền đá, được lắp đặt và sản xuất tại đầu cầu bà Tiếp (cầu Nhiệt điện hiện nay), sau đó được điều chuyển cho Xí nghiệp xây lắp mỏ Na Dương sản xuất đá tại Đồng Mỏ (huyện Chi Lăng); 2 xe Bò ma trộn bê tông để làm đường, làm sân công nghiệp, sau đó 1 xe được được điều về Xí nghiệp Đông Anh, 1 xe về Xí nghiệp xây lắp mỏ Na Dương; 2 xe nâng hàng; và một số xe ca, xe con làm nhiệm vụ chuyên chở công nhân, cán bộ đi làm việc, tham quan, nghỉ mát (ngoài xe ca Ba Đình hiện có, năm 1987, mỏ nhận xe Pat, đồng thời thanh lý các xe con Rumani, xe Uoat 1010 cũ, điều xe Mêkông cho mỏ Nông Sơn để nhận các xe Uoat 1522, 1533, 1469, 2307, xe Toyota camry, cá mập...); xe cứu thương thì nhận các xe Latvia và Uat.
Về điện, để phục vụ sản xuất và đời sống, năm 1987 mỏ đầu tư thêm 2 máy biến áp 35/6kV, dung lượng 2400kVA, 5 máy biến thế 6/0.4kV (từ 280 đến 630kVA, đồng thời cải tạo đường điện nội bộ (đường điện 6kV trên khai trường sản xuất, dài 9km; đường điện 6kV Nà Cáy, dài 3km; đường điện 6kV Mông Trang (khu sản xuất vật liệu), dài 5km; đường điện hạ thế khai trường, dài 5km). Đến tháng 5-1990, đường điện cao thế 110kV Bắc Giang - Đồng Mỏ - thị xã Lạng Sơn - Na Dương, do Sở điện lực Lạng Sơn đầu tư hoàn tất, hệ thống cung cấp điện cho mỏ mới hoàn chỉnh và ổn định.
Những năm này, mỏ tăng cường thêm cho Xưởng cơ điện các loại máy phay P623, máy bào B665 và các máy gia công cắt gọt, nhằm nâng cao năng lực cho xưởng đảm nhận các phần việc T01, T02, T03, bảo dưỡng, trung đại tu sửa chữa lớn các loại thiết bị mỏ đang quản lý, nâng cao chất lượng bảo dưỡng, sửa chữa, hạn chế việc xe máy phản tu phải quay lại xưởng. Bên cạnh đó, mỏ còn tăng cường các loại máy công cụ theo đặc thù nâng cao năng lực gia công sửa chữa tại chỗ cho 2 tổ gia công sửa chữa của 2 đơn vị chủ lực khai thác và vận tải.
Từ năm 1986 đến 1990, cùng với việc tiếp nhận xe Bela, mỏ đã tuyển chọn 40 công nhân kỹ thuật có phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ cử đi học vận hành và sửa chữa loại xe này tại Cẩm Phả (Quảng Ninh). Trong thời gian ngắn, số công nhân này đã tiếp thu được kỹ thuật vận hành và sửa chữa. Các năm tiếp theo, mỏ tuyển chọn công nhân gửi xuống đào tạo lái xe tại Trường đào tạo lái xe Hoành Bồ (Quảng Ninh). Đồng thời mỏ tiếp tục tuyển dụng công nhân đào tạo các nghề vận hành máy khoan, xúc, gạt, bơm, thợ sửa chữa các thiết bị mỏ. Công nhân điện thiết bị, điện hào, điện dân dụng mỗi năm hàng trăm người ra trường tiếp tục tăng cường bổ sung nguồn công nhân cho mỏ. Những năm này mỏ có số lượng công nhân, cán bộ đông nhất, trên 2.000 người (năm đông nhất, 1988, tới 2.200 người), đáp ứng đủ nhân lực cho bốc xúc, vận chuyển đất đá và khai thác than, hoàn thành nhiệm vụ cung cấp than cho các nhà máy xi măng Hải Phòng và Bỉm Sơn.
Vào mùa mưa tháng 7-1986, một trận mưa lớn kéo dài tại Lạng Sơn. Nước từ thượng nguồn đổ về đã gây ngập lụt lớn. Một số huyện và thị xã Lạng Sơn, trong đó có mỏ Na Dương. Mưa lớn, ngập lụt, điện bị mất, do đó máy xúc EKG 5A2 đang nằm dưới moong không kịp di chuyển, bị nước nhấn chìm. Suốt 2 tuần sau mưa, mỏ liên tục bơm nước cứu máy. Mỏ dùng 2 máy gạt, móc cáp, kê kích kéo máy lên. Lúc đầu, do không thắng được sức ỳ, cáp bị giật đứt tung, phải làm lại từ đầu. Cuối cùng EKG 5A2 đã được di chuyển đến vị trí an toàn để tháo dỡ, sửa chữa. Đây cũng là bài học kinh nghiệm mà mỏ rút ra được từ công tác quản lý thiết bị trong điều kiện mưa bão những năm sau này. Và đây cũng là trận mưa gây lụt, theo những người già sống lâu năm ở Na Dương nhận xét, lớn nhất từ trước đến thời điểm đó.
Về công tác điều hành, để đáp ứng hoạt động sản xuất với nhịp độ cao suốt 3 ca liên tục, mỏ phân công nhiệm vụ cụ thể từ lãnh đạo mỏ đến lãnh đạo các phòng ban, trên cơ sở xây dựng lịch tác nghiệp hàng tuần, hàng tháng. Lãnh đạo các phòng ban bám hiện trường, bám phân xưởng, chỉ đạo sâu sát, trực tiếp giải quyết những vướng mắc tại chỗ. Mỏ tăng cường các mặt quản lý kỹ thuật cơ điện, kỹ thuật sản xuất, an toàn lao động, giá thành, lao động tiền lương, vật tư nguyên nhiên liệu v.v. Đặc biệt là quản lý kỹ thuật cơ điện, bởi cơ điện chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất của mỏ. Do đó mỏ xây dựng đầy đủ các bộ môn quản lý, như quản lý vận hành, sử dụng cho các cấp ô tô và các máy khai thác. Thiết bị điện gia công, chế tạo, thiết bị điện sản xuất phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ, đúng chế độ định kỳ của từng loại xe máy, thiết bị khai thác. Bộ phận sửa chữa thực hiện công việc sửa chữa đảm bảo chất lượng, thời gian. Thực hiện chế độ dầu mỡ cho tất cả cho các loại thiết bị xe máy trước khi ra sản xuất, trong quá trình vận hành. Theo dõi đầy đủ giờ hoạt động của từng loại thiết bị, kịp thời phát hiện những sự cố của xe, máy. Giao ca phải có mặt cả hai kíp thợ, bàn giao máy khi còn sống v.v. Đối với quản lý kỹ thuật sản xuất, phải thực hiện đúng quy trình công nghệ trong khai thác, thực hiện chế độ khoan nổ phá đá với hiệu quả cao nhất, giảm đến mức thấp nhất hệ số hao hụt trắc địa, nâng cao hệ số thu hồi than sạch, than nguyên khai; tiếp tục thực hiện có hiệu quả chế độ khoán chi phí, khoán sản phẩm và hạch toán phân xưởng. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, cơ sở như được cởi trói. Do đó, trên nền tảng các chỉ tiêu được xây dựng khoa học, lãnh đạo mỏ quyết định chuyển hướng quản lý theo hình thức khoán chi phí. Bắt đầu thực hiện với Đội xe vận tải đường dài, sau đó phát triển ra toàn bộ các công trường, phân xưởng. Việc khoán chi phí được chỉ đạo chặt chẽ từ các chỉ tiêu định mức kinh tế, kỹ thuật. Ban đầu rất khó khăn, do trình độ quản trị kinh doanh còn nhiều bỡ ngỡ của các công trường, và sự trì trệ do kế hoạch hóa tập trung lâu ngày, để lại trong tư tưởng cán bộ quản lý đơn vị nhận khoán. Nhưng Giám đốc mỏ quyết tâm chỉ đạo, khó khăn cùng tháo gỡ, từ đó đã tạo bước đệm vững chắc cho công tác quản trị kinh doanh sau này.
  Với mật độ huy động xe máy lớn, nhiều chủng loại, nguy cơ xảy ra mất an toàn cho người và sự cố thiết bị cao, do đó mỏ quan tâm đặc biệt đến công tác quản lý kỹ thuật an toàn; phổ biến các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn và vệ sinh lao động của nhà nước, các nội quy, quy chế, quy trình, quy phạm, quy định bảo hộ lao động của mỏ đến từng phân xưởng và người lao động. Mỏ lập phương án phòng cháy chữa cháy, thủ tiêu sự cố, tai nạn lao động, sự cố thiết bị; xây dựng quy trình, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, kiểm tra việc chấp hành các chế độ, tiêu chuẩn an toàn trong phạm vi toàn mỏ; có biện pháp khắc phục kịp thời; thường xuyên kiểm tra các đơn vị sản xuất, nhất là những nơi làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm dễ xảy ra tai nạn lao động; thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp v.v.
Công tác quản lý tổ chức sản xuất, mỏ duy trì sản xuất và công tác của các phòng ban, phân xưởng theo tính đặc thù của từng đơn vị sản xuất, lao vụ.
Năm 1987, thành lập Đội than nhặt nhằm tận thu tài nguyên. Trong năm này, theo yêu cầu của Giám đốc Công ty Than III, mỏ điều một lực lượng gồm 40 người, 1 máy gạt, 2 máy khoan đập cáp, 1 máy xúc và 5 ô tô Kpa3 lên mỏ than Làng Cẩm (Thái Nguyên) bóc xúc đất đá, sau 4 tháng thì rút quân.
Năm 1989 công binh của mỏ phối hợp với công binh của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng sơn tiến hành rà phá, tháo gỡ mìn tại cửa khẩu Chi Ma. Cùng năm 1989 mỏ cử 01 máy gạt T130 số 8 do đồng chí Lý văn Cun làm máy trưởng giúp huyện Lộc Bình san gạt đường (đoạn từ đồn biên phòng Chi Ma đi cửa khẩu Chi Ma), khi máy thi công cách đồn Chi Ma khoảng 500m thì vướng mìn chống tăng, mìn nổ làm máy gạt bị đứt xích, gãy càng do đó đồng chí Lý Văn Cun bị sức ép nặng. Sau đó mỏ cử máy gạt T130 số 7 vào thay, đồng chí Hoàng Văn Den làm máy trưởng, trong lúc đang thi công cách đồn biên phòng Chi Ma khoảng 1500m thì vướng mìn chống tăng, mìn nổ làm máy gạt bị đứt xích và bị lật, đồng chí Hoàng Văn Den bị thương.
Năm 1989, sau 9 năm thi công, đường sắt Mai Pha - Na Dương hoàn thành, có chiều dài 31km. Sau khi hoàn thành, mỏ đã làm thủ tục bàn giao cho Xí nghiệp đường sắt Hà Lạng quản lý và khai thác. Về phía mỏ quản lý những năm đầu là 2,4km từ ga Na Dương vào kho than. Khi xây dựng nhà máy điện, mỏ dỡ bỏ 0,7km, trả mặt bằng cho nhà máy, hiện mỏ còn quản lý 1,7km. Hiện nay đường sắt Mai Pha - Na Dương, ngoài việc vận chuyển than từ mỏ đi Bỉm Sơn (Thanh Hóa), còn làm nhiệm vụ vận chuyển đá cho Nhà máy nhiệt điện Na Dương. Cũng từ năm 1989, khi vận chuyển bằng đường tàu, việc xúc than lên tàu bằng máy xúc lật; từ năm 1992, mỏ điều máy xúc 4,6m3 ra làm nhiệm vụ tiêu thụ. Việc ngừng tiêu thụ than bằng ô tô, đã giảm được một công việc nặng nhọc, độc hại là xúc than lên xe bằng lao động thủ công. Số lao động này sau đó được chuyển sang làm công việc khác.
Năm 1989, mỏ giải thể Ban thi đua tuyên truyền văn thể, chuyển công tác thi đua khen thưởng về Phòng hành chính quản lý; chuyển công tác văn thể về Công đoàn quản lý. Trước năm 1989, Ban thi đua khen thưởng, tuyên truyền và văn thể được biên chế từ 3-5 người, Giám đốc mỏ là trưởng ban, thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ và quản lý công tác văn thể. Những năm sau khi xóa bỏ bao cấp, mỏ thực hiện xã hội hóa công tác văn thể, cho đến khi thành lập Phòng Văn hóa và thể thao.
Năm 1990, xây dựng dây chuyền máy sàng rung và dây chuyền máy sàng mi ni để tận thu than loại 1 lẫn trong xít, giảm bớt được khâu tuyển bằng tay vừa nặng nhọc, vừa độc hại.
Do lượng đất đá phải bóc xúc, vận chuyển để cải tạo mỏ là rất lớn, lại mang tính thời điểm, tháng 6-1990, mỏ hợp đồng thuê 2 đơn vị Xí nghiệp 17 Sông Đà và Sóc Sơn (Hà Nội) làm nhiệm vụ bóc đất đá, đến tháng 11 thì thanh lý hợp đồng.
Mỏ xây dựng khu kho vật tư tập trung (tại khu nhà rèn luyện thể chất bây giờ), đồng thời thực hiện chế độ quản lý kho 2 cấp (cấp xí nghiệp và cấp công trường). Song công tác quản lý kho 2 cấp cũng bộc lộ những bất cập, đo đó về sau lại xóa bỏ, quản lý tập trung về một mối, do mỏ quản lý.
 Những năm tháng này, như đã nói ở phần trước, các nhà máy xi măng Hải Phòng, Bỉm Sơn - những khách hàng có ảnh hưởng đặc biệt đến sản xuất và đời sống của người thợ Na Dương, đang hoạt động ổn định, là tiền đề để mỏ phát triển, nhất là mỏ Na Dương lại đang được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, là mỏ có tầm quan trọng ở vị trí số 1, đang được sự đầu tư thích đáng để mở rộng nhằm tăng sản lượng than khai thác.
Năm 1988, mỏ đạt sản lượng khai thác than và tiêu thụ than cao nhất từ trước tới thời điểm đó: hơn 255 nghìn tấn than khai thác và hơn 135 nghìn tấn than tiêu thụ. Sau đó sản lượng lại giảm xuống, mà mãi cho đến 16 năm sau đó - năm 2004, sản lượng than khai thác mới vượt qua các con số trên.
Hàng năm mỏ tổ chức Đại hội CNVC ký kết thoả ước lao động tập thể giữa người sử dụng lao động với đại diện CNLĐ và các Hội nghị chuyên đề về kỹ thuật sản xuất, cơ điện, an toàn .v.v.

Đây là giai đoạn có phong trào thi đua lao động sản xuất rầm rộ nhất, với các phong trào như: năng suất, chất lượng, hiệu quả; phong trào phá kỷ lục năng suất cao; phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có hàng trăm sáng kiến đã được áp dụng vào sản xuất; phong trào thi đua lao động xã hội chủ nghĩa được ký kết giữa Chuyên gia Liên Xô với Giám đốc, Công đoàn mỏ v.v. Nhiều đầu xe, tổ máy đạt và vượt mức năng suất định mức của mỏ và công ty, lập thành tích chào mừng 30 năm ngày thành lập mỏ. Hàng trăm công nhân đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, nhiều người là chiến sỹ thi đua cấp công ty. Nhiều tổ, đội sản xuất đạt tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa:
    Năm 1986, có 25 cán bộ công nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua, 10 tổ lao động XHCN.
    Năm 1987, có 30 cán bộ công nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua và 10 tổ lao động XHCN.
    Năm 1988, có 25 cán bộ công nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua và 12 tổ lao động XHCN.
    Năm 1989, có 30 cán bộ công nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua và 15 tổ đạt tổ lao động XHCN.
    Năm 1990, có 30 cán bộ công nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua, trong đó  có 6 người đạt Chiến sỹ thi đua cấp Công ty, 15 tổ đạt tổ lao động XHCN.
 Các năm 1986 – 1990 mỏ đều được cấp trên công nhận hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch được giao.
Do sản xuất phát triển, nên đời sống vật chất tinh thần của người lao động  được cải thiện, bình quân thu nhập năm sau cao hơn năm trước. Mỏ đã tạo đủ công ăn việc làm, không để công nhân thiếu việc làm. Việc khen thưởng công minh, đúng người, đúng việc, đúng thành tích nên đạt hiệu quả.
Mỏ xây dựng khu chợ xép Na Dương, do đó tạo thuận lợi cho việc mua bán, giao lưu, trao đổi hàng hoá. Các lô gia đình công nhân được xây dựng theo mô hình khép kín, gọn đẹp, phù hợp thuận tiện với người sử dụng (tập trung ở khu 5A, 5B. Các lô nhà được phân cho các đối tượng là thợ bậc cao).
    Tuy đời sống an sinh xã hội của công nhân, cán bộ và người lao động đã từng bước được cải thiện, song vẫn còn nhiều khó khăn vì giá than lúc ấy chưa được điều chỉnh hợp lý, giá bán rất thấp, sản xuất vẫn phải bù lỗ.
Giai đoạn 1986 – 1990 là giai đoạn phong trào văn hoá, thể thao của mỏ được quan tâm đầu tư cả về bề rộng lẫn chiều sâu, vì vậy đã đạt được nhiều thành tích, giúp nâng cao đời sống tinh thần cho cán bộ công nhân.
    Về bề rộng: Tất cả các công trường, phân xưởng, ngành, khối cơ quan đều thành lập đội bóng đá, bóng chuyền nam nữ, đội văn nghệ. Mỏ tổ chức hội thao, hội diễn, thi đấu các môn nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm.
    Năm 1989, mỏ khởi công xây dựng Cung trẻ thơ (trường Mầm non mỏ Na Dương). Công trình có quy mô hiện đại, khang trang, đầy đủ tiện nghi. Cung trẻ thơ là công trình kiến trúc đẹp, hoành tráng vào bậc nhất của tỉnh lúc bấy giờ. Công trình thu hút được sự quan tâm chú ý của các đoàn tham quan và là mô hình điểm của ngành giáo dục. Công trình gồm toàn bộ khuôn viên nhà 2 tầng (nhà cấp 2) với 43 phòng, diện tích sử dụng 2.064 m2 , có đầy đủ các phòng ăn, phòng nghỉ, phòng rèn luyện thể chất và sân chơi, được xây dựng trên một quả đồi ngay trung tâm thị trấn Na Dương, thuận tiện cho việc đưa đón các cháu.
    Năm 1991, Cung trẻ thơ được đưa vào sử dụng, khai giảng lớp học đầu tiên; cũng là năm mỏ chuyển giao công tác quản lý nuôi dạy trẻ về cơ quan chức năng chuyên môn. Song về cơ sở vật chất, Cung vẫn thuộc mỏ quản lý, hàng năm kiểm tra sửa chữa thường xuyên, chống xuống cấp. Mãi đến năm 2003 mới bàn giao toàn bộ công trình về Phòng giáo dục đào tạo huyện Lộc Bình quản lý - năm toàn bộ hệ thống trường từ mầm non tới tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của mỏ bàn giao cho ngành chức năng.
    Các năm 1986 - 1990, Đảng bộ than Na Dương liên tục được Tỉnh uỷ Lạng Sơn công nhận là đảng bộ trong sạch vững mạnh. Đồng chí Triệu Tùng, Giám đốc – Phó bí thư Đảng ủy được cơ cấu vào BCH Tỉnh ủy Lạng Sơn các khóa IX, X, XI.
    Tháng 3-1989, Đại hội đại biểu Đảng bộ khoá XV của mỏ, có 150 đảng viên ưu tú tham dự, đã thành công tốt đẹp. BCH được Đại hội bầu gồm 17 đồng chí, khuyết 1, còn 16 đồng chí, đồng chí Lương Thanh Thuận được bầu tái cử giữ chức Bí thư.
    Những năm tháng này Công đoàn mỏ luôn được Liên đoàn lao động Lạng Sơn công nhận và tặng Bằng khen Công đoàn cơ sở có phong trào thi đua xuất sắc. Năm 1988, Công đoàn mỏ phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ 6 Công đoàn Việt Nam, qua đợt triển khai thực hiện đã được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng cờ Công đoàn cơ sở có phong trào thi đua xuất sắc và được khối xếp tặng cờ thi đua lao động XHCN cho cán bộ công nhân viên chức mỏ than Na Dương.
    Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh mỏ than Na Dương là một trong những đoàn cơ sở xí nghiệp trung ương trên địa bàn được xếp vào tốp đầu của đoàn cơ sở trực thuộc Tỉnh đoàn. Hàng năm Đoàn mỏ đều được công nhận đoàn cơ sở vững mạnh. 3 năm liên tiếp 1986, 1987, 1988 được Trung ương đoàn tặng cờ thưởng luân lưu: Đoàn có phong trào thanh niên khá nhất.
    Phong trào nữ công nhân của mỏ hoạt động cũng rất hiệu quả. Các phong trào nữ 2 giỏi, phong trào sinh đẻ có kế hoạch... 100% nữ công nhân đều đăng ký tham gia. Nữ công nhân trong độ tuổi sinh đẻ đều đăng ký sinh đẻ có kế hoạch và không sinh con thứ 3, đã hạ được tỉ lệ sinh của mỏ những năm đó xuống còn 1,5%; vận động được 12 nữ CNVC trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện phương pháp triệt sản.
    Hội Cựu chiến binh được thành lập lâm thời ngày 13-12-1990, có 203 hội viên. Năm 1991, Hội đã tổ chức thành công Đại hội lần thứ nhất. Là tổ chức chính trị mới được thành lập, kinh nghiệm hoạt động chưa nhiều, song Hội đã sớm khẳng định được vai trò vị trí của mình trong sản xuất kinh doanh của mỏ. Đến cuối năm 1989, Nhà máy xi măng Hải Phòng ngừng hẳn không lấy than Na Dương vì đã chuyển đổi công nghệ.
Năm 1998, Chính phủ ký quyết định cho Nhà máy xi măng Bỉm Sơn chuyển đổi công nghệ từ phương pháp ướt sang phương pháp khô nhằm giảm giá thành và có điều kiện mở rộng, nâng cao công suất nhà máy. Do đó Nhà máy xi măng Bỉm Sơn sẽ giảm dần sản lượng tiêu thụ than ngọn lửa dài của mỏ than Na Dương.
Những người thợ mỏ Na Dương lại bước vào những thử thách mới.

Ảnh: Trên công  trường khai thác than ở mỏ Na Dương ( ảnh của Bùi Quang Tuynh).


( Còn nữa – Mời bạn đọc xem tiếp phần 2 và 3 của bài này vào kỳ tiếp theo)

                                       Nguyễn Quang Tình biên tập

Số lượt đọc: 3694 - Cập nhật lần cuối: 03:37 | 17/03/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ