ĐÔI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC QUẶNG TRÊN THÊ GIỚI


                                       Nguyễn Quốc - CTV

Trong thời gian gần đây, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, mức lợi nhuận trong ngành khai thác khoáng sản nói chung không cao, tổng giá trị thị trường của vốn (còn gọi là thị giá vốn - market capitalization) của toàn bộ ngành khai thác khoáng sản sụt giảm. Tuy nhiên, nhu cầu về một số sản phẩm khoáng sản như kim loại, vật liệu công nghiệp, vật liệu xây dựng hay vật liệu năng lượng không hề giảm bớt, đặc biệt là sản lượng quặng gia tăng ổn định.
Nâng cao năng suất
Ngày nay, nhờ các công nghệ tách chiết hiện đại và hiệu quả cao, từ các nguồn quặng có hàm lượng thấp, con người đã có thể tinh chế ra một khối lượng kim loại tinh lớn, với chi phí thấp hơn nhiều so với trước đây. Các công ty khai thác quặng đều chú trọng đầu tư vào dây chuyền thiết bị khai thác hiện đại và hiệu quả, trong khi vẫn duy trì ổn định giá thành sản xuất. Một số mỏ hoạt động không hiệu quả đã buộc phải đóng cửa, một số doanh nghiệp khác được sáp nhập nhằm nâng cao năng suất, giảm chi phí đầu tư.
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, ngành khai thác quặng trên thế giới đã có nhiều thay đổi căn bản, nhiều công ty danh tiếng lâu đời bị giải thể, bên cạnh đó, nhiều tập đoàn lớn được thành lập, điển hình như các tập đoàn Big Austrlian, BHP Billiton, Newmont ….
Phương pháp khai thác quặng hầm lò
Theo thống kê, hàng năm, trên thế giới khai thác khoảng 4100 triệu tấn quặng chứa những kim loại quan trọng nhất như đồng, vàng, sắt, kẽm, chì, niken, kim cương, bạch kim… .Trong số này, khoảng 615 triệu tấn được khai thác bằng phương pháp hầm lò.
Nhưng con số này mới chỉ chiếm 16% trong tổng sản lượng quặng khai thác được trên thế giới, trong đó, các nước thuộc khu vực Đông bán cầu đạt 32% còn các nước thuộc khu vực phía Tây đạt 15%. Tại khu vực phía Tây, có 365 hầm mỏ, đa số có qui mô nhỏ, đang trong quá trình khai thác và có hiệu suất cao, mức sản lượng tăng trung bình 400.000 tấn/năm. Bên cạnh đó, cũng còn rất nhiều mỏ hầm lò có quy mô lớn, với nhiều trang thiết bị phức tạp có mức độ tự động hóa cao.
Phân bố sản xuất
Nam Phi hiện là quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực khai thác quặng bằng phương pháp hầm lò, đạt sản lượng 141 triệu tấn/năm. Nhóm đứng vị trí thứ hai bao gồm các quốc gia như Canada, Australia, và các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Nga, Ukraina và Kazakstan với sản lượng 40-55 triệu tấn/năm. Tiếp theo là nhóm quốc gia thứ ba, bao gồm Mỹ, Brazin, Peru, Ba Lan và Thụy Điển, với sản lượng quặng hàng năm đạt từ 26 đến 41 triệu tấn. Hàng năm, các nước Zambia, Mexico, Indonesia, Ấn Độ và Bungari khai thác được khoảng 10 triệu tấn quặng. Như vậy, hai nhóm quốc gia đứng đầu bao gồm Nam Phi, Canada, Australia, Nga, Ukraina và Kazakstan có sản lượng quặng chiếm tới 70% tổng sản lượng toàn thế giới.
Tới nay, có đến trên 80% sản lượng quặng chì/kẽm trên thế giới được khai thác bằng phương pháp hầm lò. Trong tổng số 115 triệu tấn quặng kẽm cần khai thác để sản xuất ra kẽm thành phẩm, đáp ứng được nhu cầu của các nước thuộc khu vực phía Tây có hơn 90 triệu tấn được khai thác bằng phương pháp hầm lò. Tương tự như vậy, trong tổng sản lượng 60 triệu tấn quặng niken, có hơn 30 triệu tấn được khai thác bằng phương pháp hầm lò. Với sản lượng quặng sắt thì mức độ còn cao hơn nhiều. Trong hơn 1 tỷ tấn quặng sắt được khai thác hăng năm trên thế giới, có tới 675 triệu tấn được khai thác ở khu vực phía Tây và gần 10% trong số đó được khai thác từ các mỏ hầm lò thuộc các nước Thụy Điển, Na Uy, Slovakia và Colombia.
Xu hướng phát triển trong tương lai
Hàm lượng quặng thay đổi tùy theo các khu vực khai thác. Với loại quặng sắt giàu, hàm lượng có thể đạt tới 65% sắt (650.000 g/t), trong khi đó, hàm lượng trung bình của một loại quặng vàng tại một mỏ lộ thiên chỉ có thể đạt một phần triệu (0,00001% hoặc 1g/t). Do đó, khối lượng quặng cần thiết để tách được 1 tấn hoặc 1kg sản phẩm tinh rất khác nhau.
Khối lượng quặng khai thác phụ thuộc vào lượng kim loại tiêu thụ  và hàm lượng quặng khai thác. Theo thời gian, các thân quặng tốt nhất dần trở nên cạn kiệt và những mỏ quặng có hàm lượng ít hơn bắt đầu được khai thác, các mỏ ngày càng phải xuống sâu hơn. Trong 70 năm qua, hàm lượng đồng nguyên chất có trong quặng liên tục sụt giảm. Cụ thể là, để sản xuất được 1 tấn đồng thành phẩm thì lượng quặng đồng cần thiết phải khai thác trong năm 2003 phải gấp 5 lần so với năm 1950.
Những tiến bộ kĩ thuật đã giúp triển khai các phương phát thăm dò hiện đại, nâng cao khả năng khai thác xuống sâu, tăng cường tìm kiếm các thân quặng mới với trữ lượng và hàm lượng cao hơn. Năm 2005, sản lượng quặng khai thác tại các nước thuộc khu vực phía Tây đạt trên 3 tỷ 700 triệu tấn, đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm xấp xỉ 3%, tỉ lệ giữa mỏ lộ thiên và hầm lò đạt mức ổn định, khoảng 1:6, tức là 85% mỏ lộ thiên và 15% hầm lò. Tuy nhiên, rất khó dự đoán xu thế phát triển khai thác quặng tại các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và Trung Quốc. Tỉ lệ khai khác hầm lò ở những nước này sẽ giảm khi lợi nhuận về kinh tế cũng như  ảnh hưởng của thị trường thế giới trở nên mạnh mẽ hơn. Sau rất nhiều năm tại các quốc gia này, việc đầu tư khai thác quặng cũng như tham gia vào thị trường thế giới bị xem nhẹ thì đây là thời điểm cần thiết để các nhà đầu tư trên thế giới tái đầu tư và nâng cao sản lượng khai thác./.
Bài của Nguyễn Quốc (biên dịch)
     Theo Underground Mining Methods
Số 04/ 2013
Ảnh của Ngọc Minh - VPTCT


 

Số lượt đọc: 4731 - Cập nhật lần cuối: 07:13 | 30/08/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ