GIỚI THIỆU HỆ THỐNG KHAI THÁC CÁC THÂN QUẶNG MỎNG TẠI BUNGARI

Theo các số liệu thống kê, đến nay, các hệ thống khai thác áp dụng cho các thân quặng mỏng tại Bungary có năng suất và mức độ an toàn tương đối thấp, mức tiêu thụ năng lượng cao. Các thiết bị khai thác đều là những thiết bị loại nhẹ, cầm tay như máy khoan tay, máy cào, goòng vận chuyển có dung tích 1,0m3 và trục tải giếng đứng. Kết quả khai thác thực tế cho thấy, chất lượng quặng khai thác thấp, độ nhiễm bẩn từ 20% đến 25%, mức độ tổn thất khoảng 10%. Từ thực tế đó và với độ sâu khai thác ngày càng lớn đã đặt ra yêu cầu áp dụng các hệ thống khai thác mới theo các nguyên tắc sau:
* Sử dụng các thiết bị di động có công suất lớn chạy bằng động cơ diezen;
* Sử dụng các thiết bị khai thác tự hành;
* Nâng cao khả năng khai thác quặng tại các gương có tiết diện lớn;
* Đảm bảo chất lượng quặng cao, độ nhiễm bẩn khoảng 10% và mức độ tổn thất 5%;
* Khai thác chọn lọc quặng có giá trị cao;
* Phù hợp với các chỉ số độ bền của thân quặng: spres. = 140 ÷ 160 MPa và sstr. = 14 ÷ 18 MPa và hệ số độ bền tối đa (MSF) đối với phương pháp khai thác buồng cột.
Sau khi phân tích điều kiện địa chất và kỹ thuật mỏ, người ta đã đề xuất áp dụng các hệ thống khai thác bằng phương pháp phá hỏa phân tầng và khấu phân tầng.
I. Hệ thống khai thác với phương pháp khấu phân tầng
 
Hình 1. Hệ thống khai thác bằng phương pháp
khấu phân tầng với các thiết bị tự hành
Hệ thống khai thác bằng phương pháp khấu phân tầng được giới thiệu trên hình, trong đó:
Đường lò vận chuyển có tiết diện 15m2;
Đường lò bằng thông gió có tiết diện 15m2;
Đường lò nghiêng khai thác có góc dốc 20% và tiết diện 14m2;
Lò thượng trung tâm có tiết diện 4,9m2;
Lò chéo (lò cắt), dùng để bốc xếp và vận chuyển quặng với tiết diện 14m2;
Lò chéo nối lò vận chuyển với lò thượng;
Lò chéo nối lò thượng bù (điều hòa) với đường lò vận chuyển;
Lò dọc phân tầng với tiết diện 15m2;
Thượng điều hòa (thượng bù);
10.     Hào;
11.    Trụ bên bảo vệ gương lò;
12.    Trụ bảo vệ dưới lò dọc vận chuyển ở phía trên;
13.    Trụ bảo vệ giữa các tầng;
14.    Trụ bảo vệ giữa lò chéo vận chuyển;
15.    Lò tháo quặng;
16.    Camera;
17.    Lỗ khoan nổ mìn;
18.    Lỗ khoan;
19.    Xe chất và dỡ tải (LHD);
 Trình tự khai thác:
Để đảm bảo hiệu quả khai thác, chiều dài block là 200 ÷ 250m, chiều cao phân tầng là 25m và chiều dài lò dọc theo tầng là 50 ÷60m.
Thiết bị được vận chuyển vào khu vực khai thác qua đường lò nghiêng (3) và lò dọc phân tầng (8). Các lỗ khoan có đường kính Φ 51mm hoặc Φ 61mm được khoan bằng máy khoan Simba Junior. Các lỗ khoan được khoan theo sơ đồ hình tròn. Công tác nạp thuốc nổ được tiến hành bằng cơ giới hóa với thuốc nổ ANFO, sử dụng kíp nổ điện hoặc phi điện. Việc khai thác được tiến hành đồng thời tại hai gương, bất đầu từ hai bên cánh vào thượng trung tâm. Công tác bốc xúc và chuyển tải quặng được tiến hành bằng loại xe LHD307 của hãng Sandvik có dung tích gàu 3m3. Quặng được vận chuyển về máng tháo sau đó được chất lên xe tải TH320 (Sandvik) và vận chuyển lên mặt đất qua đường lò nghiêng có góc dốc 20%.
II. Hệ thống khai thác với phương pháp phá hỏa phân tầng
Hệ thống khai thác bằng phương pháp phá hỏa phân tầng (hình 2) được đề xuất áp dụng trong điều kiện đất đá dễ bị sập đổ.
 

Hình 2. Hệ thống khai thác bằng phương pháp
phá hỏa phân tầng
Chiều dài tối thiểu của gương lò chợ là 250m, chiều cao phân tầng là 15m, phù hợp với việc sử dụng máy khoan. Chiều cao mức thay đổi từ 60m đến 105m.
Hệ thống khai thác bao gồm:
Lò vận chuyển chính;
Lò thông gió;
Lò nghiêng 110;
Lò thượng trung tâm;
Lò tháo quặng;
Lò chéo nối lò thượng với lò dọc phân tầng;
Lò chéo nối với lò tháo quặng;
Lò dọc phân tầng;
Khu vực khai thác (khấu, cắt, đánh rạch);
10.    Lò thượng bù (điều hòa);
11.    Lỗ khoan nổ mìn;
12.    Tầng quặng được nổ mìn;
13.    Tầng tháo quặng;
14.    Xe khoan;
15.    Xe LHD;
16.    Thiết bị nạp mìn.
Trình tự công nghệ khai thác:
Trong hệ thống khai thác này, các lỗ khoan nổ mìn có đường kính Φ 51mm hoặc Φ 64mm và được nạp bằng thuốc nổ ANFO. Cũng như trong hệ thống khai thác bằng phương pháp khấu phân tầng, công tác bốc xúc và chuyển tải quặng được tiến hành bằng loại xe LHD307 của hãng Sandvik, vận chuyển về máng tháo sau đó được chất lên xe tải TH320 để vận chuyển đến đường lò vận tải.
Dựa vào kết quả phân tích hàm lượng và mức độ phân tán quặng trong khối đá, chất lượng quặng được kiểm soát và xử lý trong các công đoạn nổ mìn, thu hồi và bốc xúc hoặc tại nơi tháo quặng.
Kết luận
Các hệ thống khai thác đề xuất đã tạo ra khả năng khai thác từ 4 triệu đến 5 triệu tấn quặng tại khu vực khoáng sàng Lucky Invest. Việc sử dụng các hệ thống thiết bị mới phù hợp với tiêu chuẩn châu Âu cho phép nâng cao nâng suất lao động tại các gương khai thác có diện tích lớn, cường độ lao động cao, điều kiện lao động thích hợp cho thợ mỏ. Chiều cao khai thác của các phân tầng từ 15m đến 25m tạo điều kiện để quản lý chất lượng quặng khai thác./. 
Trung Nguyễn
(Nguồn: Báo cáo tại Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Mỏ Quốc tế
lần thứ 22 - Istanbul,  Thổ Nhĩ Kỳ)

    
 

Số lượt đọc: 4267 - Cập nhật lần cuối: 03:07 | 08/05/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ