Nỗ lực bảo vệ môi trường trong khai thác than

 

 


Sản xuất gạch tại mỏ than Núi Hồng

 
 

Tuy nhiên, song hành cùng với năng suất, chất lượng cao thì việc phát sinh khói bụi và chất thải ảnh hưởng đến môi trường cũng cao hơn. Nhận thức được việc đó, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc đã xác định: “Muốn phát triển bền vững thì sản xuất kinh doanh phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường”. Điển hình trong việc đầu tư bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác than là các Công ty: Than Khánh Hòa; Than Núi Hồng (Thái Nguyên) và Than Na Dương (Lạng Sơn).

Công ty Than Khánh Hòa (Than Khánh Hòa) là một trong những mỏ than lớn nhất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nằm tiếp giáp với các xã Phúc Hà, Tân Long (TP. Thái Nguyên), xã An Khánh (huyện Đại Từ), xã Sơn Cẩm (huyện Phú Lương). Chính vì vậy, vấn đề an toàn môi trường trong và ngoài khu vực khai thác than luôn được Than Khánh Hòa chú trọng quan tâm hàng đầu. Nhằm từng bước nâng cao năng lực khai thác, từ năm 2004, Than Khánh Hoà đã đầu tư để ứng dụng công nghệ khai thác hiện đại. Việc đầu tư công nghệ mới đã đưa năng lực khai thác của Than Khánh Hoà từ bóc đất đá được 2,5 triệu m3 (năm 2004) lên 7,5 triệu m3 (năm 2011). 


Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong bảo vệ môi trường, như trồng hàng chục nghìn cây xanh xung quanh khai trường, dùng xe chuyên dụng dập bụi trên công trường, xe phun nước rửa đường ở khu vực dân sinh, xử lý nước bằng cách lắng đọng trước khi thải ra môi trường… nhưng theo kết quả quan trắc môi trường, có những năm, nước thải ra môi trường vẫn vượt TCVN 5945-1995. 

Trước thực tế đó, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc đã chỉ đạo Than Khánh Hòa phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải khu vực moong khai thác, công suất từ 1.500 đến 2.000 m3/h, tổng vốn đầu tư gần 4 tỷ đồng, trên diện tích gần 1 ha trong khu vực khai trường của mỏ. Hệ thống đã hoàn thành và đưa vào vận hành từ cuối năm 2011. Hệ thống xử lý nước thải này có khả năng xử lý được toàn bộ nước thải thu gom trong khai trường mỏ trước khi thải ra môi trường. Khi nước thải được thu gom về hồ sẽ được lưu chứa, phục vụ tái tuần hoàn để xử lý ô nhiễm môi trường do khí, bụi phát sinh trong quá trình sản xuất. Qua kiểm tra khảo sát nước thải sau khi được xử lý tại hồ bằng phương pháp lắng lọc kết hợp với keo tụ xử lý chất rắn lơ lửng, các chỉ tiêu đều đạt TCVN 5945-1995 và đã được Viện Khoa học công nghệ mỏ, Chi cục Môi trường tỉnh Thái Nguyên xác nhận đạt tiêu chuẩn xả thải môi trường. 

Song song với việc triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải, năm 2010, Than Khánh Hòa đã được Hợp phần Sản xuất sạch hơn (PCDA) của Đan Mạch tại Thái Nguyên hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống phun sương dập bụi trong khai trường sản xuất của mỏ. Đặc biệt, hệ thống này được kết nối trực tiếp với hệ thống xử lý nước thải - một mô hình khép kín trong quá trình xử lý nước thải tại Than Khánh Hòa. Đây là bước tiến quan trọng của Công ty trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường. 

Trong khai thác than, mặt bằng đổ thải luôn là vấn đề nóng ở các mỏ than lộ thiên. Nắm bắt được điều đó, Tổng công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc đã đầu tư Nhà máy Xi măng Quán Triều nhằm tận dụng đất đá thải khai thác tại vách vỉa 16 của Công ty Than Khánh Hòa làm nguyên liệu sản xuất xi măng, vừa tận dụng được tài nguyên, vừa hạn chế việc đổ thải ra môi trường. Đây là một hướng đi đúng đắn của Tổng công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc trong chiến lược kinh doanh đa ngành gắn với công tác bảo vệ môi trường. 

Cùng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Than Núi Hồng là mỏ than khai thác lộ thiên, nằm trên địa bàn 02 xã Yên Lãng, Na Mao, huyện Đại Từ, sản lượng hàng năm đạt trên 400.000 tấn. Tuy nhiên, do diện tích sản xuất trải dài và nằm trên khu vực canh tác của nông dân, nên công tác đền bù giải phóng mặt bằng, hoàn nguyên môi trường, trả lại ruộng cho người dân sau khai thác gặp nhiều khó khăn. 

Từ năm 2001, Than Núi Hồng đã thực hiện dự án bồi thường khối 3 -thấu kính 2 với tổng diện tích là 33,46 ha. Đến năm 2009, Than Núi Hồng tiến hành thực hiện dự án bồi thường khu 7 - thấu kính 2 với tổng diện tích 14,04 ha của các hộ dân 2 xã Yên Lãng và Na Mao. 

Với phương châm “lợi ích của doanh nghiệp luôn gắn với lợi ích cộng đồng”, Công ty Than Núi Hồng đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để hài hòa lợi ích: doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất và khai thác, người dân có đất tái canh tác. Thậm chí, việc hoàn nguyên phải làm sao cho việc tái trồng lúa đạt năng suất từ 200-250kg/ha. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp đã phải tiến hành nhiều bước, mất nhiều thời gian, như san lấp mặt bằng, đổ đất màu, đầu tư cải tạo đất... Năm 2004, Than Núi Hồng đã hoàn thổ và phục hồi thành công 12,37 ha diện tích đất canh tác tại moong 1A và bắc thấu kính 2 cho nhân dân xã Yên Lãng, với khối lượng san lấp trên 232.000 m3. Đặc biệt, bên cạnh việc hoàn thổ sau khai thác, Than Núi Hồng không những hỗ trợ cải tạo đất cho các hộ dân trong 3 năm tiếp theo, mà còn xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước vào các thửa ruộng, nên lúa qua các vụ đều đạt năng suất từ 180 - 200 kg/ha. 

Nước thải trong quá trình khai thác cũng được Công ty xử lý triệt để, nước từ các moong bơm lên được lắng đọng qua 6 hồ lắng trước khi thải ra sông, suối. Không dừng lại ở đó, Than Núi Hồng còn đẩy mạnh công tác ứng dụng khoa học công nghệ, sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, trong đó có nhiều sáng kiến mang lại giá trị kinh tế cao và có tác động giảm thiểu ô nhiễm môi trường, như việc xử lý nước thải tại phân xưởng Cơ điện, việc tận dụng đất, đá sau khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng... Những việc làm này không những giảm được diện tích đổ thải, mà còn giải quyết được việc làm cho số lượng lớn lao động ở địa phương. 

Theo Quy hoạch phát triển ngành Than mới được công bố gần đây, dự báo, nhu cầu tiêu thụ than phục vụ cho phát triển kinh tế của đất nước sẽ tăng nhanh, ước tính khoảng 103 - 118 triệu tấn/năm. Dự kiến, tới năm 2015 là 33,6 - 38 triệu tấn/năm; đến năm 2030 nhu cầu này sẽ lên tới 181,3 - 231,1 triệu tấn/năm. Cũng theo Qui hoạch, đến năm 2015, ngành Than cơ bản đạt các chỉ tiêu chính về môi trường tại các khu vực nhạy cảm như đô thị, khu dân cư, điểm du lịch và đến năm 2020 phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn môi trường trên các vùng mỏ. 

Chính vì vậy, ngay từ bây giờ, ngành Than cũng như Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc cần phải quan tâm đầu tư cải thiện môi trường hơn nữa để có được nhiều đơn vị làm tốt công tác vừa khai thác vừa bảo vệ môi trường, đẩy mạnh những phong trào thi đua lao động sáng tạo, cá nhân thợ mỏ xuất sắc và phát huy truyền thống “Kỷ luật - Đồng tâm” của công nhân mỏ. Có như vậy, ngành Than mới đảm bảo được mục tiêu phát triển bền vững. 

                                                                                                                                         LH

 
Số lượt đọc: 4825 - Cập nhật lần cuối: 03:50 | 02/10/2012
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ