CÔNG TY THAN NA DƯƠNG THỜI KỲ TĂNG TỐC, MỞ RỘNG KHAI TRƯỜNG SẢN XUẤT TĂNG NHANH SẢN LƯỢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP XI MĂNG ( Giai đoạn 1981 – 1985)



                                                                    Nguyễn Quang Tình

Do yêu cầu phát triển mạnh ngành xi măng để xây dựng các công trình trọng điểm của đất nước như xây dựng nhà máy thủy điện trên sông Đà; Cầu Thăng Long (Hà Nội). Các nhà máy dùng than ngọn lửa dài Na Dương như Nhà máy xi măng Hải Phòng được mở rộng và nâng cao công suất; đặc biệt có thêm cơ sở sản xuất xi măng mới - Nhà máy xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hóa), có công suất lớn: 1,2 triệu tấn xi măng/năm ra đời; do đó mỏ than Na Dương được nâng cao vị thế, trở thành đơn vị sản xuất trọng điểm của Nhà nước.
Vì vậy, để đẩy nhanh tốc độ ra than, thời kỳ này mỏ được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô thiết kế, cải tạo và bổ sung các thiết bị sản xuất có công suất lớn hơn.
Năm 1983, đoàn chuyên gia Liên Xô có 1 kỹ sư khai thác, 2 kỹ sư cơ điện, sau khi 2 kỹ sư cơ điện về nước, thì lại bổ sung 1 kỹ sư khai thác, về mỏ công tác.
Hai công trình Thủy điện sông Đà và Xi măng Bỉm Sơn do Liên Xô viện trợ hoàn toàn. Muốn có Xi măng Bỉm Sơn, tất phải đẩy mạnh sản xuất của Na Dương. Na Dương không có thời gian cải tạo mà phát triển mở rộng là chủ yếu. Và từ cuối 1979 trở đi, thiết bị về Na Dương với tốc độ nhanh. Chuyên gia Liên Xô đến mỏ trong giai đoạn này để theo dõi thiết bị về mỏ và theo dõi sử dụng thiết bị để có năng suất. Họ không can thiệp vào sản xuất, kinh doanh của mỏ. Đồng chí trưởng đoàn là kỹ sư khai thác ở mỏ cho đến khi rút về nước vì chính sách đổi mới Perestroika (cải tổ) của bạn.
Việc có mặt của chuyên gia Liên Xô có tác động việc cơ khí hóa mỏ với tốc độ nhanh, đáp ứng kịp thời sản xuất than cho Nhà máy xi măng Bỉm Sơn. Bạn không can thiệp vào sản xuất, kinh doanh của mỏ, nhưng luôn nhắc nhở ta về sử dụng thiết bị mỏ có năng suất, có hiệu quả, và họp sản xuất hàng tháng với mỏ. Khu ăn ở của bạn được xây dựng nhà cấp 4 khép kín có trần. Sau này bạn rút, mỏ đã dùng làm nhà khách cho tới năm đầu thế kỷ XXI.
 Lương thực, thực phẩm, tuần một lần, bạn về nhận theo tiêu chuẩn tại Cục chuyên gia ở Hà Nội, về cho vào tủ lạnh, tự nấu ăn. Chuyên gia đến Na Dương đều mang theo vợ, có một đồng chí mang theo cả con. Sinh hoạt văn hóa của bạn là ti vi và máy catset nghe nhạc. Ngoài ra, mỏ có mời bạn dự sinh hoạt văn hóa trong các dịp có đoàn văn công trung ương đến biểu diễn.
Thiết bị trong giai đoạn này mỏ được đầu tư
Năm 1980, nhận thêm các loại ô tô Kamaz, Volvo và Tata. Một số linh kiện quan trọng của máy xúc EKG dung tích gàu 4,6m3 được đưa từ nơi sơ tán - Nông trường Thái Bình - về. (Máy xúc này về mỏ từ cuối năm 1978, nhưng chưa kịp lắp đặt thì chiến tranh xảy ra. Máy nhận từ cảng Cửa Ông, Quảng Ninh, đi theo đường thủy về cảng Hải Phòng, từ đó đi bằng tàu hỏa lên lạng Sơn. Do thớt dưới của máy không tháo rời được, nặng khoảng 30 tấn, mỏ phải thuê đội bốc vác ga Gia Lâm lên chuyển từ toa tàu sang xe ô tô. Từ thị xã Lạng Sơn vào mỏ, các cầu không qua được, mỏ phải gia cố, sửa chữa các ngầm để đưa qua. Đặc biệt, không có xe chuyên dụng để chở cần máy dài 17,5m, mỏ có sáng kiến nối dài satxi xe Kpa3 từ 3 cầu lên thành 5 cầu (2 cầu chủ động, 3 cầu bị động), từ 10 tấn lên 18 tấn. Đồng chí Giám đốc mỏ trực tiếp tham gia chỉ huy việc chuyển máy).
Năm 1981, nhận 12 xe Kamaz tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng).
Năm 1983, nhận 10 xe Kpa3 tại cảng Hải Phòng; nhận máy khoan xoay, khoan giã từ Hải Phòng và Quảng Ninh.
Năm 1984, nhận 12 xe Kpa3 tại cảng Chùa Vẽ (Hải Phòng); nhận và lắp đặt thành công máy xúc EKG 5A1 (máy xúc có dung tích gàu 5m3, số 1).
Năm 1985, nhận 2 đợt 18 xe Kpa3 tại Bến Bính (Hải Phòng).
Tổng số đầu xe vận tải của mỏ lúc này có gần 100 đầu xe các loại, sau khi đã thanh lý dần các ô tô cũ không sử dụng được, hoặc sử dụng không hiệu quả.
Máy gạt, bổ sung thêm loại Komatsu của Nhật.
Máy bơm, có loại 8X12D của Liên Xô, chống được a xít ăn mòn.
Điện lưới quốc gia, tuyến Bắc Giang đi Lạng Sơn, đường dây 110kV đã được kéo về mỏ.
Đường sắt Mai Pha - Na Dương do Binh đoàn 542 Trường Sơn thi công, gọi là bên B, mỏ là bên A, khánh thành vào đầu năm 1989. Sau khánh thành, mỏ tổ chức bàn giao ngay cho Tổng cục đường sắt để chở than cho Bỉm Sơn.
Với sự đầu tư bổ sung như thế, sản xuất than lúc này của mỏ hoàn toàn chuyển sang cơ giới hóa; thủ công chỉ còn là nhặt than, gom đống tại bãi tập trung.
Để đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất than ngày một tăng cao và nhiệm vụ bóc xúc vận chuyển đất đá chuẩn bị khai trường mở rộng sản xuất, khai thác than tăng gấp 2-3 lần, trong khi lòng moong ngày càng sâu hơn, khai thác, vận chuyển được một tấn than càng khó khăn, chi phí lớn hơn, hệ số bóc ngày một cao hơn, đất đá vận chuyển xa hơn (ra khỏi bờ mỏ, tránh tình trạng đất đổ các năm trước năm sau lại phải bốc đi, gây lãng phí), mỏ đã lập tờ trình trình ủy ban nhân dân các cấp (xã, huyện, tỉnh) về phương án mở rộng mỏ của Bộ; đề nghị chuyển 2 bản - bản Tồng Già và bản Tồng Gianh ra khỏi khai trường mỏ (trong đó bản Tồng Gianh đã di chuyển một số trước đây cho việc mở rộng mỏ đợt một). Về phía mỏ, mỏ tạo điều kiện bằng chính sách tuyển dụng số lao động bị mất ruộng vào làm công nhân mỏ. Số lao động này được bổ sung cho lực lượng tuyển chọn than, xúc than lên xe tiêu thụ, cho công trường sản xuất vật liệu và xây dựng cơ bản. Những gia đình có nhu cầu máy gạt để san gạt nền nhà nơi ở mới, mỏ sẵn sàng giúp đỡ. Được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và sự đồng thuận của nhân dân, chỉ trong thời gian ngắn, công tác đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng được thực hiện tốt đẹp, không xảy ra tranh chấp hoặc đơn thư khiếu kiện. Số con em của các gia đình thuộc diện di dời, giải tỏa sau này mỏ có chính sách tuyển sinh đi học nghề vận hành và sửa chữa, sau đó nhận về mỏ làm việc, tạo công ăn việc làm, có thu nhập. Đến nay một số gia đình này đã có nhà xây, sắm được các vật dụng, đồ dùng đắt tiền, đời sống được cải thiện nhiều so với trước đây.
Trong giai đoạn này, cơ quan cấp trên quản lý trực tiếp của mỏ là Liên hiệp các xí nghiệp than Hòn Gai.
Đại hội Đảng bộ khóa XII họp trong 2 ngày 5 và 6-3/1982. Đại hội bầu BCH gồm 15 đồng chí, đồng chí Lương Thanh Thuận được bầu làm Bí thư đảng ủy, thay đồng chí Hoàng Văn Bính nghỉ chế độ.
Từ những năm 1968, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn với công suất 1,2 đến 1,5 triệu tấn/năm. Thời gian xây dựng nhà máy từ năm 1977 đến năm 1981. Tháng 12-1981, dây chuyền công nghệ lò nung số 1 chính thức đi vào hoạt động và bắt đầu tiêu thụ than Na Dương. Tháng 2-1982, toàn bộ dây chuyền công nghệ lò nung số 1 hoàn chỉnh và tiếp tục xây lắp dây chuyền số 2. Tháng 11-1983, dây chuyền số 2 hoàn thành, việc tiêu thụ than Na Dương do đó đã được tăng lên theo yêu cầu của Nhà máy.
Phong trào thi đua lao động sản xuất và kết quả sản xuất giai đoạn này tăng trưởng với nhịp độ cao. Than tiêu thụ đến năm 1983 đã vượt ngưỡng 100 ngàn tấn.
Giai đoạn này, lao động phổ thông dôi dư nhiều, một phần do mỏ tiếp nhận một lượng lớn lực lượng lao động phổ thông trước đó; một phần thế hệ thứ hai của mỏ đã bước vào tuổi lao động; và một phần do quá trình cơ giới hóa, nên nhiều người không có việc làm. Vì thế bên cạnh sản xuất chính, mỏ phát triển mạnh sản xuất phụ.
Do yêu cầu mở rộng sản xuất chính, Công trường vật liệu chuyển từ Tồng Gianh ra Nà Phải (xã Đông Quan), tiếp tục sản xuất các sản phẩm gạch, vôi. Đá vôi được chuyển từ Lạng Sơn vào; vôi sản xuất ra được mỏ nghiệm thu đưa về tôi tập trung ở khu vực kho vôi của mỏ.
Năm 1982, mỏ mở thêm một công trường sản xuất vật liệu nữa, gọi là Công trường vật liệu 2, đặt tại khu đồi Phẫu tiểu đoàn quân y 18 của F327; năm 1984 Công trường chuyển về làng Khòn Quanh, xã Sàn Viên.
Những năm đầu, sản xuất vật liệu xây dựng làm bằng thủ công. Các năm tiếp theo, mỏ có chủ trương mở rộng tiếp sản xuất và cơ giới hóa từng bộ phận.
Than dùng để đốt gạch, vôi dùng than phụ phẩm (loại 2). Mỏ khuyến khích bằng bao cấp than loại 2, nhằm giảm giá thành, tăng thu nhập cho công nhân (đây thực chất là hình thức trợ giá của mỏ khi mở ra sản xuất phụ để giải quyết việc làm cho lao động dôi dư).
Gạch sản xuất ra có lúc đã đạt tới 1,2 đến 1,5 triệu viên/năm.
Sản phẩm vôi, gạch làm ra chủ yếu phục vụ cho xây dựng các công trình phúc lợi và bán cho công nhân, cán bộ mỏ với giá ưu đãi hoặc trả góp, cũng có bán một phần ra ngoài thị trường.
Lúc này, bên cạnh sản xuất vật liệu của mỏ, còn có các hộ sản xuất vật liệu của các xã và tư nhân, nên mỏ cũng tiêu thụ được thêm một lượng than phụ phẩm hàng năm.
Sau năm 1985, mỏ sáp nhập hai công trường trên thành một công trường có quy mô lớn hơn, đặt tại khu đồi Nà Lèo, xã Đông Quan, nay là khu Sơn Hà I và Sơn Hà II, thị trấn Na Dương. Sản phẩm ngoài gạch, vôi, nay thêm có ngói và các sản phẩm phụ khác.Chính từ giai đoạn này, khái niệm "kinh doanh tổng hợp trên nền sản xuất than" được thường xuyên quan tâm, để giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động dôi dư và những người mới trưởng thành cần có công ăn, việc làm. Phương châm chỉ đạo là đa dạng hóa sản phẩm, du nhập kỹ thuật từ miền xuôi lên miền núi.
Để sản xuất được ngói, mỏ thành lập đoàn đi tham quan, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm. Sau đó đầu tư 2 dây chuyền sản xuất, xây 5 lò ngói nằm (công nghệ tiên tiến thời ấy), công suất 1,2 triệu viên ngói/năm. Dây chuyền sản xuất ngói, công nghệ liên hoàn, gần như khép kín, từ nhào trộn, ngâm ủ đất, đến dập ra viên ngói; các công đoạn còn lại là thủ công.
Từ đó mỏ có thêm mặt hàng ngói phục vụ xây dựng nội tại và bán ra thị trường.
Trước sức ép của việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động, mỏ tiếp tục liên kết với các trường đại học và các xí nghiệp, cơ sở sản xuất gốm sứ, đá xẻ, gạch lát để nghiên cứu, tìm hiểu và được chuyển giao công nghệ.
Mỏ cử một đội gốm sứ vào Thanh Hóa học nghề. Một tổ về Khoa trang trí mỹ nghệ, gốm sứ thuộc Đại học tổng hợp Hà Nội học trang trí gốm sứ.
Sau đó mỏ thành lập một đội sản xuất gốm sứ và xây dựng một lò nung gốm, đặt tại đồi Nà Chặng, xã Đông Quan; đã thử nghiệm và cho ra lò một số sản phẩm.
Thành lập một tổ sản xuất gạch lát nền, đặt tại đồi Nà Lằn, khu Nà Phải, xã Đông Quan, gồm 3 gian nhà trình tường của đơn vị thủy nông chuyển nhượng cho mỏ.
Dụng cụ trang bị 1 máy xẻ đá, 1 máy mài đá, 2 máy ép gạch lát nền.
Các tổ sản xuất đá xẻ, gạch lát nền cũng cho ra được một số sản phẩm.
Tuy vậy, các mặt hàng gốm sứ, đá xẻ, gạch lát nền không phát triển mạnh như sản xuất các vật liệu xây dựng khác, mà chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm.
Năm 1983, ông Nguyễn Vân Hương, nguyên Phó ban quản lý cải tạo mở rộng của mỏ được điều sang làm giám đốc Xí nghiệp xây lắp mỏ Na Dương. Xí nghiệp đặt tại đồi trạm cấp nước, gần đập Nà Cáy, nay là khu tập thể công nhân của mỏ và nhà máy nhiệt điện.
Từ tháng 8-1993, Xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp xây lắp và vật liệu Lạng Sơn. Tháng 4-1994, được sáp nhập vào mỏ.
Trong những năm tồn tại, Xí nghiệp đã giúp mỏ xây dựng được một số công trình phục vụ sản xuất, đời sống và phúc lợi xã hội, trong đó có cây cầu Nà Đươi. Cầu Nà Đươi được khởi công xây dựng năm 1991, hoàn công và cắt băng khánh thành năm 1993. Cầu đưa vào sử dụng tạo điều kiện cho xe tải mỏ vận chuyển đất đá vào bãi thải Nà Đươi và giúp nhân dân địa phương đi lại thuận tiện.
Do tốc độ sản xuất than giai đoạn này tăng cao để đáp ứng cho hai nhà máy xi măng, lượng than được bốc xúc và vận chuyển lên bãi chứa rất lớn, nên lượng than tốt bị xe máy nghiền nát, có cỡ hạt nhỏ dưới 10 ly sinh ra nhiều, nếu không tận thu, loại than này sẽ trở thành than loại 2. Vì vậy, Đảng ủy, Giám đốc, Công đoàn mỏ đã phát động phong trào than nhặt cho khối cơ quan, các công trường, phân xưởng; Phòng KCS nghiệm thu và làm thủ tục, mỏ thanh toán kịp thời. Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, số than nhặt (loại 1) thu được tới hàng trăm tấn, có được thêm một nguồn thu nhỏ, góp phần cải thiện đời sống trong lúc đất nước và mỏ đều đang còn rất khó khăn.
Trong thập niên này, mỏ rất khó khăn về tài chính, kế hoạch thu chi được duyệt bù lỗ. Trong khi giá bán than lại rất thấp. Giá than thấp như vậy, thật sự ai cũng biết là nghịch lý. Song phải cho tới khi cơ chế thị trường được mở ra, giá than mới được ủy ban vật giá nhà nước điều chỉnh dần, có những lúc căng đến mức chấp nhận khách hàng cùng kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật, để có giá than đúng mức. Mãi tới cuối năm 1992, giá than Na Dương bán mới có lãi.
Trong khó khăn, những người thợ mỏ Na Dương vẫn không chùn bước.
Để chỉ huy sản xuất nhịp nhàng, hàng ngày, cuối ca 3 đầu ca 1 có họp giao ban tại phòng điều khiển sản xuất. Thành phần gồm giám đốc, phó giám đốc kỹ thuật, các phòng kỹ thuật, cơ điện, ban an toàn, các phân xưởng cơ điện, vận tải, công trường khai thác.
Hàng tháng họp sơ kết, có đầy đủ lãnh đạo đảng, đoàn, công đoàn, chánh, phó giám đốc, trưởng hoặc phó phòng ban, chánh hoặc phó quản đốc các công trường, phân xưởng, chánh hoặc phó ngành đời sống (ngành ăn), chánh hoặc phó trạm xá.
6 tháng, họp đại điện công nhân viên chức toàn mỏ; 1 năm họp tổng kết, đại diện công nhân viên chức cùng dự. Ưu khuyết điểm được rút ra từ hai cuộc họp lớn này để chỉ đạo trong năm hoặc chuẩn bị cho các năm sau. Về nội dung, được chuẩn bị và họp bàn đầy đủ mọi mặt kinh tế, xã hội đã, đang và sẽ xảy ra.
Sau năm 1980, các khu gia đình được xây dựng khang trang hơn. Nhà có trần, 2 buồng, nhà bếp khép kín, nhà rộng khoảng 50m2. Có chuồng lợn riêng, nhà vệ sinh riêng, có vườn trồng rau. Số nhà này đã bố trí được trên 20 hộ, tạo niềm phấn khởi lớn. Nguồn vốn kiến thiết cơ bản thường xuyên cộng với vốn tự có của mỏ, do vậy mới xây dựng không theo định mức mét vuông ở của cấp trên, mỏ đã làm vượt và sắm sửa khá đầy đủ tiện nghi cho các căn hộ...
Về ăn, trong những năm 70 đã được hưởng chế độ độc hại giữa ca. Thời gian này Nhà nước cho 2đ/suất, mỏ bổ sung thêm 2đ, lấy từ nguồn sản xuất phụ, do đó chất lượng bữa ăn đảm bảo cho sự phục hồi sức khỏe người lao động.
Trong những năm 80, có thời gian bồi dưỡng chế độ độc hại bị cắt (không rõ lý do), Nhà nước thay bằng ăn giữa ca. Ngoài tiêu chuẩn Nhà nước, mỏ vẫn tiếp tục bổ sung thêm cho bữa ăn bằng nguồn sản xuất phụ và chăn nuôi. Mỏ chế biến đậu phụ, làm bánh mỳ, do đó bữa ăn trên công trường luôn hơn hẳn bữa ăn ở gia đình. Đặc biệt, sự tận tình phục vụ của công nhân, cán bộ ngành đời sống, sau này là ngành ăn chưa bao giờ để đứt bữa trên công trường của công nhân và không hề xảy ra tiêu cực.
Hàng quý, trong thời gian này, mỏ thường xuyên đón các đoàn ca múa nhạc của trung ương lên biểu diễn. Phim được xem theo định kỳ chiếu của Sở văn hóa tỉnh. Sau khi xây dựng xong hội trường, mỏ đã có điều kiện phục vụ món ăn tinh thần cho ca 2 và ca 3 vào ban ngày.
Năm 1981, mỏ lắp đặt nâng công suất trạm bơm Nà Cáy phục vụ nước sản xuất và sinh hoạt. Sau khi thi công xong đập nước Nà Cáy, bằng nguồn vốn cải tạo mở rộng, Ban kiến thiết đã chỉ đạo thi công bể nước, trạm bơm Nà Cáy và hệ thống lắng lọc. Đường dẫn nước đến ngã ba mỏ bây giờ bằng ống gang đường kính 200mm, trên đó có phân nhánh xuống khu trạm xá bây giờ, nhánh vào xưởng cơ điện, xưởng vận tải (khu nhà máy điện bây giờ), khu cơ quan bây giờ, khu vào công trường II  bằng ống gang, đường kính 100mm. Từ đó vào các vòi chính là ống thép đường kính 40 - 60mm.Là một xí nghiệp sản xuất kinh doanh trung ương đóng tại địa phương có số lượng công nhân, cán bộ đông, số khẩu ăn theo có lúc lên tới hàng chục ngàn người;
Là xí nghiệp khai thác than hưởng chế độ độc hại cao, môi trường khí hậu, môi trường nước độc hại và khó khăn, nguy cơ xảy ra dịch bệnh cao;
Xí nghiệp đứng chân ở một vùng hẻo lánh, xa trung tâm huyện, tỉnh, xa cơ quan chủ quản cấp trên, hạ tầng cơ sở nghèo nàn, lạc hậu;
Trình độ dân trí trong khu vực còn hạn chế, các hủ tục lạc hậu vẫn còn;
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, từ ngay những năm đầu thành lập, mỏ đã có ý thức xây dựng mạng lưới y tế đến công trường, phân xưởng, đặc biệt quan tâm phát triển Trạm y tế (như trạm y tế khu vực), phục vụ công nhân, cán bộ mỏ và nhân dân địa phương. Chính vì thế, kể từ khi ra đời, Trạm y tế mỏ luôn được lãnh đạo quan tâm, nâng cấp.
Năm 1982, mỏ đầu tư xây dựng Trạm y tế khang trang, có 30 giường bệnh; sắm trang thiết bị khám chữa bệnh hiện đại (so với thời điểm); xây dựng được 1 phòng mổ tiêu chuẩn, có thể mổ được những ca cấp cứu thông thường; mua sắm xe cứu thương để chuyên chở bệnh nhân. Trạm y tế của mỏ đã thu hút được các y, bác sỹ có tay nghề về làm việc.
Nhu cầu cần thiết phải có nhà trẻ, mẫu giáo để nuôi dạy các công dân ra đời ở mỏ, trong khi hệ thống này chưa phát triển ở địa phương, nên ngay từ ban đầu mỏ đã đặt ra việc phải xây dựng, phát triển nhà trẻ, mẫu giáo.
Mỏ tuyển chọn các cô giáo trong đội ngũ công nhân sang làm công việc nuôi dạy trẻ. Chế độ lương, thưởng, nhu yếu phẩm các cô được hưởng như công nhân, cán bộ của mỏ; có tặng phẩm nhân ngày nhà giáo 20-11 v.v.
Công tác nuôi dạy trẻ theo cơ chế của mỏ kéo dài cho đến năm 1991.
Giữa thập niên 70, thế hệ thứ 2 của mỏ bước vào tuổi thiếu niên và cũng học hết cấp II ở mỏ, sang cấp III phải ra thị trấn Lộc Bình mới có trường cấp III để theo học, cách mỏ 10km, những ngày mưa, lũ sáng chiều hai lần đi mảng vượt lũ sông Pò Lọi để học lấy cái chữ cho ấm thân. Thủy thần có thể cướp mất mạng lúc nào không biết, gây tâm lý lo sợ cho bố mẹ các cháu. Mặt khác, học hết cấp III là nguyện vọng tối thiểu cho các bậc làm cha mẹ, để các cháu có thể thi vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc các trường dạy nghề.
Với sự bức xúc đó, lãnh đạo mỏ đã làm việc nhiều lần với Ty giáo dục Lạng Sơn, trong đó có sự tham mưu đắc lực của phòng cấp III của Ty và cùng mỏ lập các thủ tục trình Bộ giáo dục để xây trường cấp III tại khu vực Na Dương.
Về cơ sở vật chất, mỏ dùng vốn tự có: dùng than phụ phẩm đổi gỗ với Lâm trường Đình Lập, mua xi măng bụi (quét nền của phân xưởng đóng bao của Nhà máy xi măng Bỉm Sơn) thông qua Xí nghiệp vật tư vận tải than, xi măng của Công ty xi măng để có nguyên vật liệu xây trường.
Năm 1980, mỏ tiến hành thi công xây dựng trường cấp III. Sau thời gian 1 năm, công trình đã hoàn thành, diện tích sử dụng gần 1.000m2, gồm 9 lớp học, 3 phòng làm việc và phòng thí nghiệm, 8 phòng để thầy cô giáo ở, sân trường, nhà vệ sinh v.v. Các lớp học được trang bị đầy đủ bàn ghế, đồ dùng giảng dạy. Trường được mang tên: Trường trung học kỹ thuật mỏ Na Dương, sau đó sáp nhập với Trường cấp II Na Dương và đổi thành Trường phổ thông trung học cấp 2-3 Na Dương. 
Năm 1981, khóa đầu tiên của trường cấp III bắt đầu và cũng là ngày hệ thống trường lớp của mỏ đầy đủ từ nhà trẻ, mẫu giáo đến các trường cấp I, II, III.
Niềm vui hạnh phúc của các bậc phụ huynh, các em học sinh thật khôn tả.
Gần 30 năm qua, hàng ngàn lượt học sinh đã học tập dưới mái trường này và đã tốt nghiệp để tiếp tục bay cao, bay xa.
Hàng năm, mỏ vẫn thường xuyên kiểm tra và cho sửa chữa để chống trường bị xuống cấp.
Khi các trường cấp I, II, III thuộc mỏ quản lý, mỏ quan tâm đến đời sống của các thầy cô giáo: cấp bù phần chênh lệch về lương thực, thực phẩm theo tiêu chuẩn của công nhân, cán bộ mỏ.
Bên cạnh việc xây dựng các trường học, giai đoạn này mỏ cũng tiến hành xây dựng Nhà văn hóa trung tâm để thay thế hoạt động văn hóa, văn nghệ ở sân khấu ngoài trời như trước đây. Nhà văn hóa trung tâm với 600 chỗ ngồi được khởi công xây dựng năm 1984 và khánh thành, đưa vào sử dụng một năm sau đó. Đây là công trình kiến trúc được xếp vào loại đẹp lúc bấy giờ, trở thành địa điểm hoạt động của tất cả các loại hình văn hóa, văn nghệ phục vụ công nhân, cán bộ mỏ và nhân dân địa phương.
Lúc đầu Nhà văn hóa hoạt động theo mô hình kiêm nhiệm, sau chuyển qua hoạt động theo hình thức câu lạc bộ, có ban chủ nhiệm chuyên trách, khoán chi phí, doanh thu, sau giải thể, chuyển qua chế độ phục vụ là chính.
Những năm đầu khi vô tuyến truyền hình chưa phát triển, Lạng Sơn chưa có trạm thu phát, mỏ chủ động xây dựng trạm thu phát sóng truyền hình phục vụ công nhân, cán bộ và bà con trong vùng. Năm 1985, mỏ đặt mua đại trà các màn hình ti vi, thông qua Ngành đời sống, áp dụng hình thức thanh toán tiền thưởng phân phối lại để công nhân, cán bộ có ti vi xem.
Mỏ còn mua máy chiếu phim phục vụ công nhân, cán bộ; khai thác nguồn phim thông qua công ty chiếu bóng của tỉnh; phát thưởng bằng vé xem phim; chiếu phim phục vụ công nhân đi ca 3... Những năm 1985-1986 chiếu phim viđêô, 1986-1990 chiếu phim nhựa.
Trong điều kiện cuộc sống còn khó khăn, giám đốc, công đoàn mỏ đã đặc biệt quan tâm đến phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao nhằm nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe cho người lao động. Mỏ coi hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao là một tiêu chí trong công tác thi đua khen thưởng của đơn vị.
Về văn hóa, văn nghệ, tất cả các phân xưởng sản xuất, khối cơ quan đều có đội văn nghệ không chuyên tập luyện ngoài giờ; giao lưu, tham gia hội diễn của mỏ, của công ty, rồi huyện, tỉnh, tạo được không khí vui tươi, lành mạnh.
Từ phong trào đó, mỏ đã tuyển chọn được những hạt nhân văn nghệ xuất sắc, thành lập thành đội văn nghệ, tham gia hội diễn các cấp, như hội diễn Sở văn hóa, Liên đoàn lao động, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh... đều giành được thứ hạng cao, cho tập thể và cá nhân.
Năm 1983, mỏ trực tiếp liên hệ với Hội nhạc sỹ Việt Nam mời các nhạc sỹ về sáng tác. Đoàn gồm 5 nhạc sỹ, do nhạc sỹ Văn Ký dẫn đầu đã về thực tế vùng mỏ. Cuối năm ấy, các nhạc sỹ cho ra đời nhiều bài hát nói về tinh thần chiến đấu và sản xuất của công nhân mỏ Na Dương; trong đó có bài hát "Đỉnh gió Na Dương" của nhạc sỹ Vũ Thanh, đã mau chóng trở thành bài hát truyền thống của mỏ. Trong các kỳ hội diễn các cấp, bài hát này do đội văn nghệ mỏ trình diễn đều giành giải cao.
Cũng năm này, mỏ liên hệ với nhà quay phim Thế Mỹ của Xưởng phim tài liệu khoa học trung ương. Sau chuyến công tác tại mỏ, bằng cảm nhận về tình yêu và tinh thần chiến đấu và lao động của người công nhân mỏ, bộ phim dài 45 phút có tựa đề "Vùng mỏ tiền tiêu" đã ra đời, mà diễn viên chính là các công nhân lái xe, thợ sửa chữa, công nhân xúc than, các chiến sỹ tự vệ của mỏ.
Năm này mỏ còn đón nhà văn quân đội - đại tá Đỗ Thân về công tác. Bằng tình yêu và sự cảm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm bảo vệ vùng biên, tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ để sản xuất than làm giàu cho Tổ quốc của công nhân, cán bộ nơi đây, nhà văn đã viết nên tập "Ký sự vùng biên", nói về người công nhân mỏ Na Dương trong sản xuất và chiến đấu.
Không chỉ quan tâm phát triển mạnh về phong trào, mỏ còn đầu tư về chiều sâu các hạt nhân văn nghệ. Đó là việc có chế độ đãi ngộ xứng đáng để thu hút nhân tài các nơi tự nguyện về mỏ công tác; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng các hạt nhân văn nghệ; mua sắm các trang thiết bị phục vụ: đàn ooc, đàn ghi ta, trống, trang phục, trang âm, ánh sáng v.v. Năm 1985, mỏ chọn 4 hạt nhân (2 đàn, 2 hát) đi tập huấn tại Đội nghệ thuật Công ty than Hòn Gai 6 tháng.
Do đó, năm 1986, Ngành than Việt Nam tổ chức hội diễn lần thứ 2, tại Quảng Ninh, Đội văn nghệ không chuyên của mỏ được đặc cách tham gia và giành giải nhất. Sau hội diễn, Đài tiếng nói Việt Nam đã thu thanh một số tiết mục của đội để phát trên làn sóng của đài.
Cũng như vậy, về thể thao, tất cả các phân xưởng sản xuất, khối cơ quan của mỏ đều có đội bóng đá, bóng chuyền nam, nữ, thường xuyên luyện tập; nhiều đơn vị có sân bóng chuyền. Hàng năm, mỏ tổ chức 2 đến 3 giải bóng đá, bóng chuyền nhân các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm thành lập mỏ v.v. Đồng thời thường xuyên tổ chức thi đấu giao hữu để nâng cao trình độ với các đội trong ngành, trong tỉnh hay với các khối cơ quan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Các đội thể thao của mỏ tham gia các giải của huyện, tỉnh, khu vực và toàn quốc. Như giải 3 môn thể thao quốc phòng; giải bắn súng thể thao công nhân viên chức 6 tỉnh biên giới, 8 tỉnh miền núi phía bắc; đại hội thể dục thể thao cấp tỉnh, cấp quân khu... Các năm từ 1981 đến 1984 đều mời huấn luyện viên chuyên nghiệp về huấn luyện cho các đội bóng, từ nửa tháng tới cả tháng. Cuối năm 1985, mỏ tuyển chọn một đội bóng chuyền nữ gồm 10 vận động viên, tuổi đời 16-18 tập huấn tại Quảng Ninh 9 tháng, sau đó tham gia giải vô địch bóng chuyền nữ Liên hiệp các xí nghiệp than Hòn Gai và giành chức vô địch. Tháng 10-1986, thi đấu ở Lạng Sơn, đội được thăng hạng A2 toàn quốc (1986-1987). Năm 1986, mỏ tuyển tiếp một đội bóng chuyền nữ (đội tuyển 2) để bổ sung lực lượng cho đội tuyển 1. Sau nửa năm luyện tập, tham gia giải vô địch bóng chuyền nữ Lạng Sơn, đội đoạt chức vô địch. Năm 1988, do điều kiện khó khăn, đội bóng chuyền nữ hạng A2 toàn quốc của mỏ không tham gia bảo vệ danh hiệu và đội đã xuống hạng, cả hai đội phải chuyển qua làm việc khác. Hiện nay các vận động viên vẫn tham gia tập luyện và thi đấu các giải của công ty, tập đoàn và tỉnh.
Khu vực Na Dương trước đây khi chưa có mỏ, dân cư thưa thớt, văn hóa, xã hội chưa phát triển, thuộc diện vùng sâu vùng xa khó khăn. Từ khi có mỏ, đặc biệt là dự án than - điện đã mở ra cho vùng đất nơi đây sự phát triển mau chóng, làm thay đổi một cách cơ bản cảnh quan nơi đây: từ một vùng đất sản xuất nông nghiệp, dân cư thưa thớt, thành một vùng đất đô thị công nghiệp, dân cư đông đúc dần lên. Và tháng 12-1984, vùng đất đô thị - công nghiệp này đã được Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập thị trấn - thị trấn Na Dương. Toàn bộ 10 khu địa dư hành chính của mỏ trước đây nay thuộc thị trấn. Hiện dân số của thị trấn có khoảng trên 7.400 người.
Một niềm tin và hy vọng xen lẫn niềm tự hào và hạnh phúc khi được sống và làm việc tại một tổ hợp công nghiệp than – điện Na Dương trong không khí thanh bình. Mọi người cùng đoàn kết tiếp tục làm ra ánh sáng thắp sáng vùng biên cương phía bắc Tổ quốc. Thực hiện được mơ ước của bao thế hệ công nhân  mỏ từ buổi ban đầu khi thành lập, tất cả cùng đóng góp công sức xây dựng khu mỏ ngày càng vững mạnh và liên tục phát triển.
( Hết phần thứ 5)

Bài viết và biên tập theo tài liệu lưu trữ của Công ty than Na Dương
và tài liệu của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc.

                                
Nhà báo Nguyễn Quang Tình
 

Ảnh: Trên công trường khai thác mỏ than Na Dương (ảnh của Bùi Quang Tuynh).

Số lượt đọc: 4103 - Cập nhật lần cuối: 06:59 | 11/03/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ