CÔNG TY THAN NA DƯƠNG THỜI KỲ SẢN XUẤT, CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ KHU MỎ GÓP PHẦN BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC TỔ QUỐC ( Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1980)
                                                      Nguyễn Quang Tình biên tập
 
Những chiến thắng vang dội của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở chiến trường miền Nam làm nức lòng công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương. Qua các phương tiện thông tin đại chúng, công nhân, cán bộ mỏ chăm chú theo dõi từng giờ, từng phút tin thắng trận.
Thời khắc lịch sử đã đến: 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi: lá cờ đỏ sao vàng đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập, dinh lũy cuối cùng của kẻ thù, là lời kết cuộc chiến tranh của dân tộc ta đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, sau gần 20 năm gian khổ, hy sinh nhiều xương máu. Hòa trong niềm vui chung của cả nước, công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương đón nhận tin vui giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong niềm phấn khởi vô hạn. Non sông thu về một mối kể từ đây... Đất nước chuyển sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hòa bình. Cùng với nhân dân cả nước nói chung, công nhân, cán bộ mỏ Na Dương nói riêng hân hoan bắt tay vào lao động sản xuất, tích cực xây dựng lại đất nước sau bao năm chiến tranh để được "đoàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ từng nói...
 
 
Ảnh Bóc đất đá trên Công trường khai thác mỏ than Na Dương (ảnh của Bùi Quang Tuynh)
 
Sau chiến thắng, mỏ lại được đón những người con thân yêu của mình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nơi chiến trường, nay trở về trong niềm vui và xúc động. Có người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường, không trở về. Nhiều người trở về mang trên mình thương tích của cuộc chiến... Gặp nhau tay bắt mặt mừng... Mỏ tạo mọi điều kiện bố trí các công việc phù hợp để các anh chị tiếp tục công tác, xây dựng kinh tế, hạnh phúc mái ấm gia đình.
Ngày 25-4-1976, cùng với nhân dân cả nước, công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương đã nô nức phấn khởi tham gia ngày hội lớn - ngày hội tiến hành tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội của một nước Việt Nam thống nhất, hòa bình.
Sau 16 năm xây dựng, sản xuất và chiến đấu, lần đầu tiên mỏ than Na Dương được xây dựng và tổ chức sản xuất có quy hoạch tổng thể, cả về kinh tế, văn hóa và an sinh xã hội. Đặc biệt, với trọng trách là cơ sở cung cấp than ngọn lửa dài duy nhất cho ngành xi măng, Than Na Dương đã được Đảng, Nhà nước và Chính phủ hết sức quan tâm, nâng tầm quan trọng lên vị trí số 1 các đơn vị được ưu tiên lúc đó cùng với Nhà máy xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hóa) và Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà đang chuẩn bị gấp rút khởi công xây dựng.
Nhiệm vụ của mỏ giai đoạn này là hết sức nặng nề, vừa tăng cường khai thác than cung cấp cho Nhà máy xi măng Hải Phòng đã nâng công suất, vừa khẩn trương nâng cao năng lực bóc xúc đất đá, mở rộng mỏ theo công suất thiết kế lần thứ hai. Giai đoạn này mỏ là đơn vị trực thuộc Bộ điện và than. Bí thư Đảng ủy mỏ là đồng chí Trần Lê Mạo, Phó bí thư là Giám đốc mỏ - đồng chí Triệu Tùng.
Xác định rõ nhiệm vụ và tầm quan trọng, ngay từ đầu năm 1976, mỏ đã tiến hành sắp xếp lại công tác tổ chức và điều hành sản xuất, cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ.
Các phòng, ban, ngành gồm:
- Phòng tổ chức cán bộ.
- Phòng lao động tiền lương.
- Phòng kỹ thuật.
- Phòng KCS.
- Phòng cơ điện.
- Phòng kế hoạch.
- Phòng điều độ sản xuất.
- Phòng tài vụ.
- Phòng cung tiêu.
- Phòng xây dựng cơ bản.
- Phòng bảo vệ.
- Phòng hành chính.
- Phòng an toàn lao động.
- Trạm y tế.
- Ngành đời sống (sau đổi tên thành Ngành ăn).
- Khối đảng đoàn (gồm Đảng ủy, Công đoàn, Đoàn thanh niên).
Bên cạnh mỏ còn có Ban quản lý công trình mở rộng mỏ (gọi tắt là Ban Kiến thiết. Giám đốc mỏ kiêm Trưởng ban. Trong Ban này có 2 ban nghiệp vụ kỹ thuật là Ban kế hoạch kỹ thuật và Ban tài vụ vật tư thiết bị. Sau này Ban Kiến thiết còn có Phòng ngoại vụ, nằm trong Ban kế hoạch kỹ thuật).
Các công trường, phân xưởng, gồm:
- Công trường khai thác.
- Công trường xây dựng cơ bản.
- Công trường vật liệu.
- Phân xưởng vận tải.
- Xưởng cơ điện.
Sau năm 1975, mỏ được Bộ cấp thêm 3 máy xúc có dung tích gàu lớn hơn, loại E2503, 2,5m3/gàu, từ mỏ Cọc Sáu chuyển về.
Năm 1977, nhận 2 đợt 10 xe Kpa3 10 tấn tại ga Kép (Bắc Giang), (điều đi xe Tatra, có trọng tải nhỏ hơn); nhận xe cẩu Tatarac 12,5 tấn tại Cảng Hải Phòng.
Năm 1978, nhận 10 xe Kpa3 10 tấn tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), 2 máy gạt Fiat. Hai năm (1977 - 1978) còn nhận một số máy công cụ: 2 máy tiện, 1 máy khoan tay, 2 máy mài, 2 máy hàn. Để sửa chữa thiết bị, Xưởng cơ điện được đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh các loại máy mài, gọt và hoàn chỉnh các tổ sửa chữa chuyên ngành ô tô và máy khai thác T01, T02, T03 các loại. Bổ sung thêm máy khoan loại CBb2 (loại này đến nay mỏ vẫn dùng rất hiệu quả). Mỏ được phép thanh lý và điều đi các các đơn vị khác các thiết bị lạc hậu được đầu tư từ thập niên 60 và các năm tiếp đó. Khi mỏ có điện lưới quốc gia, đường điện 35kV ổn định, Bộ điều các cụm máy phát điện đi nơi khác. Cũng từ đây, dây chuyền sản xuất chính của mỏ được cơ giới hóa hoàn toàn, từ khoan, xúc, gạt đến vận chuyển, tạo thành một quy trình khép kín. Lao động thủ công chỉ còn động tác chọn than trên bãi chứa và xúc than lên xe. Kỹ thuật khai thác cũng thay đổi, bằng cách, các vỉa than sau khi đã bóc sạch đất đá được làm sạch ngay trên vỉa và loại đá ngay trong quá trình xúc than. Khi than được xúc và vận chuyển lên bãi đã cơ bản được làm sạch, trừ các vỉa than xấu (than ngậm xít) được công nhân tuyển chọn. Than loại 1 được xếp thành đống to, nhỏ theo hình khối để nghiệm thu. Từ đó hệ số thu hồi than được nâng lên đáng kể, từ 50-60% lên 70-80%, giảm lãng phí tài nguyên. Than loại 2 (than lẫn xít) và than loại 1 có cỡ hạt nhỏ được gom đống bán cho các hộ đốt vôi, gạch và một phần cung cấp cho Phân xưởng sản xuất vật liệu xây dựng của mỏ. Phương thức sản xuất này được duy trì và kéo dài đến khi có nhà máy nhiệt điện mới ngừng (năm 2004). Trong tất cả các khâu sản xuất của mỏ, khâu tuyển chọn than thủ công là vất vả nhất và lại kéo dài suốt từ năm thành lập mỏ (1959) đến năm 2004. Thời tiết khắc nghiệt, than có độ lưu huỳnh cao, độc hại và bụi, do đó số công nhân bị mắc bệnh nghề nghiệp (bụi phổi silic) ở mỏ khá cao.
Công tác điều hành sản xuất của mỏ thời kỳ này cũng đã thay đổi một cách cơ bản. Mỏ thực hiện áp dụng các định mức kinh tế, kỹ thuật vào quản lý sản xuất và sửa chữa, cũng như quản lý thiết bị. Các định mức lao động, tiền lương, nguyên nhiên vật liệu, sửa chữa thiết bị, mở sổ sách theo dõi từng loại thiết bị, giờ ca sản xuất, bảo hành, bảo dưỡng đúng quy định, chế độ. Bên cạnh đó, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật, chây lười, khen thưởng đúng người, đúng việc, đúng hiệu quả kinh tế. Vì vậy nâng cao được nhận thức cho người lao động. Mỏ chỉ đạo các phân xưởng sản xuất định biên đúng, đủ, ổn định lao động, bậc thợ cho các tổ máy, đầu xe để nâng cao ý thức trách nhiệm cho công nhân, tránh tình trạng tranh công, đổ lỗi.
Khối các phòng ban cũng có sự thay đổi về nhận thức xây dựng bộ máy và lề lối làm việc có tác phong công nghiệp, bám sát các công trường, phân xưởng, tham mưu đề xuất để giải quyết kịp thời những khó khăn, ách tắc trong sản xuất để xử lý, điều chỉnh.
Mỏ xây dựng hệ thống an toàn, vệ sinh viên tới từng tổ sản xuất để phát hiện kịp thời những nguy cơ xảy ra tai nạn lao động. Hàng tuần, mỏ họp giao ban sản xuất để nắm bắt ý kiến của các công trường, phân xưởng.
Tháng 10-1976, do nhu cầu sử dụng nhiên liệu tăng, mật độ xe máy tăng, để tiện cho việc cấp phát nhiên liệu, mỏ chuyển kho dầu về Công trường 2, giúp cho việc cấp phát nhiên liệu thuận tiện hơn rất nhiều.
Từ những việc làm tích cực, thiết thực đó, dù đời sống còn gặp nhiều khó khăn, công nhân rất yên tâm lao động sản xuất. Hàng năm, vào các quý I và IV, mỏ phát động các đợt thi đua nước rút về trước đích thời gian kế hoạch. Phong trào thi đua được mọi người, mọi công trường, phân xưởng hưởng ứng, đạt được hiệu quả cao, phát huy được nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật áp dụng thiết thực vào sản xuất.
Tháng 11-1976, trong các ngày 4 và 5, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ khóa X đã diễn ra. 150 đảng viên ưu tú, đại diện cho hơn 260 đảng viên toàn mỏ đã về dự. Đại hội bầu BCH gồm 13 đồng chí, đồng chí Trần Lê Mạo được tái cử giữ chức Bí thư
Do công tác điều hành và tổ chức sản xuất cộng với phong trào thi đua lao động sản xuất tốt, nên việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỏ các năm 1976 đến 1978 tăng trưởng khá cao, đặc biệt năm 1976, đánh dấu năm đầu tiên qua gần 20 năm sản xuất, mỏ than Na Dương đã vượt ngưỡng con số khai thác than trên 100 ngàn tấn/năm.
Trong lúc công nhân, cán bộ mỏ đang phấn khởi thi đua lao động sản xuất, quyết tâm hoàn thành toàn diện kế hoạch 5 năm 1976-1980 được cấp trên giao, thì tình hình an ninh biên giới Việt - Trung bắt đầu diễn biến phức tạp, ngày càng trở nên gay gắt hơn. Cuối 1978, đã trở nên căng thẳng, khả năng xảy ra xung đột là khó tránh khỏi.
Là một mỏ sản xuất than đặc chủng, cung cấp cho công nghiệp xi măng "cơm gạo" của ngành xây dựng, một cơ sở kinh tế quan trọng nằm trong chuỗi các công trình trọng điểm của đất nước, lại nằm ngay sát biên giới với Trung Quốc, Đảng ủy, Ban giám đốc và công nhân, cán bộ mỏ đều xác định, nếu chiến tranh nổ ra, tất mỏ sẽ là mục tiêu số 1 bị đánh chiếm và phá hủy. Xác định được tầm quan trọng và nhiệm vụ như vậy, công nhân, cán bộ mỏ xây dựng quyết tâm bằng mọi giá phải giữ mỏ, không để địch đánh chiếm; dù phải hy sinh vẫn quyết chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ mỏ và bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
Trước diễn biến ấy, ngày 2-9-1978, Tư lệnh Quân khu I ký quyết định thành lập Trung đoàn tự vệ 213 (E213) mỏ than Na Dương với quân số gần 1000 chiến sỹ, được biên chế thành 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 đại đội hỏa lực ĐKZ và súng cối, 3 phân đội công binh, trinh sát và thông tin. Trung đoàn được trang bị vũ khí, khí tài gồm: 4 pháo 37 ly, 4 pháo 14,5 ly, 6 pháo 12,7 ly, 2 khẩu ĐKZ82, 2 cối 82 ly, 60 cối 6 ly, 2 máy thông tin 2W (từ tháng 3-1979 được trang bị thêm 1 máy 15W. Tổ thông tin này nằm dưới sự quản lý của mỏ để báo cáo tình hình mọi mặt với Bộ, với Tỉnh và Quân khu. Đến tháng 6-1983 mới rút về), 20 khẩu súng ngắn K54, 350 khẩu AK, 22 khẩu B40, 250 khẩu CKC, 12 khẩu trung liên RBD, 4 ống nhòm, hàng ngàn mìn chống tăng, mìn Ponz 2, mìn K58, lựu đạn và các khí tài phục vụ chỉ huy chiến đấu.
Ngày ra mắt, E213 đã vinh dự được Tỉnh ủy tỉnh Cao Lạng trao lá cờ truyền thống mang dòng chữ "Đoàn kết quyết thắng". Đứng dưới lá cờ "Đoàn kết quyết thắng" là 3 thế hệ: thế hệ Chiến sỹ Điện Biên, đánh thực dân Pháp, mái đầu đã bạc; thế hệ đánh Mỹ, vừa rời tay súng, mái đầu điểm bạc; và thế hệ thứ ba, được sinh ra sau hòa bình lập lại, đang độ tuổi thanh xuân...
Trung đoàn có 3 ban: Tham mưu, Chính trị và Hậu cần. Bí thư Đảng ủy, ông Trần Lê Mạo kiêm Chính ủy Trung đoàn; Giám đốc mỏ, ông Triệu Tùng kiêm Trung đoàn trưởng; Trưởng ngành đời sống của mỏ, ông Nguyễn Đức Am là Trung đoàn phó Tham mưu trưởng, chủ tịch công đoàn, là phó chính uỷ và 3 sỹ quan quân đội làm cố vấn, gồm 1 thiếu tá và 2 đại úy (đến tháng 6-1981, tổ cố vấn rút về quân khu; tháng 7, Ban chỉ huy quân sự tỉnh cử 2 sỹ quan thay thế, gồm 1 trung tá và 1 đại úy. Tháng 6-1983 nhóm này rút về tỉnh cùng tổ thông tin 15W).
Ngay sau khi được thành lập, trung đoàn tự vệ sắc áo công nhân vừa sản xuất vừa luyện tập quân sự. Người đi ca 1 về tập ca 2, người đi ca 2, ca 3 tập ca 1, với khí thế và quyết tâm rất cao. Mỏ điều công nhân xây dựng trận địa phòng thủ các tuyến 1, 2, 3, xây dựng 35 trận địa pháo phòng không và mặt đất, hàng trăm hầm chiến đấu cá nhân trên trận địa, đào hàng chục ngàn mét giao thông hào, cài đặt 5 ngàn quả mìn hỗn hợp, tất cả được khẩn trương hoàn thành trong thời gian ngắn nhất.
Cùng với Trung đoàn tự vệ mỏ, còn có Sư đoàn 338 (F338) (là đơn vị làm kinh tế) mới triển khai vào cuối năm 1978. Tháng 1-1979, đoàn cán bộ Sư đoàn cùng ban chỉ huy Trung đoàn đi thị sát địa hình thực tế và hiệp đồng với mỏ những tình huống giả định sẽ xảy ra. Ngày 13-2-1979, đoàn cán bộ của Bộ chỉ huy (BCH) quân sự tỉnh vào làm việc với Trung đoàn, xác định quyết tâm của tỉnh cũng như của BCH quân sự về việc chiến đấu bảo vệ mỏ.
5 giờ sáng ngày 17-2-1979, tiếng pháo và tiếng súng bộ binh nổ dữ dội ở phía cửa khẩu Chi Ma. Trung đoàn điện hỏi Huyện đội và Tỉnh đội đều bị mất liên lạc. 6 giờ, có tiếng máy bay trên bầu trời phía biên giới. Mỏ lệnh các khẩu đội pháo vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị khác vẫn sản xuất bình thường; tự vệ mang theo vũ khí và cơ số đạn đã được trang bị, tuyệt đối không được rời vị trí khi chưa có lệnh. Toàn bộ thông tin liên lạc đã bị cắt đứt. Khoảng 9 giờ, từng đoàn người dân ở các bản giáp biên đi sơ tán về tuyến sau cho biết chiến sự đã xảy ra ở Chi Ma. Đến 12 giờ trưa, mỏ quyết định xuống Đình Lập liên hệ với F338, xuống tới Trung đoàn 461 thì được biết chiến sự đã nổ ra trên toàn tuyến biên giới.
3 giờ chiều, lãnh đạo E213 và lãnh đạo mỏ hội ý, thông báo tình hình chung, đồng thời quyết định ca 2 ngừng sản xuất, trừ lực lượng sẵn sàng chiến đấu, còn lại chuẩn bị khi có lệnh sơ tán. 6 giờ tối, lệnh sơ tán được phát ra, theo phương án sơ tán người già và trẻ em trước, bắt đầu từ khu 1 đến khu 10. Riêng khu vật liệu (cũ) sơ tán sau cùng. Địa điểm sơ tán là các xã Nam Quan, Xuân Dương, Ái Quốc (Lộc Bình), vì các xã này có tuyến đường thông về tỉnh Hà Bắc; chỉ mang theo những tài sản quý và lương thực, thực phẩm cần thiết. Đến 1 giờ sáng ngày 18-2, toàn bộ hơn 250 gia đình công nhân mỏ đã được sơ tán. Công việc ở khu sơ tán giao cho đồng chí Hoàng Văn Bính chỉ huy. Lãnh đạo mỏ xác định, chiến sự không chỉ ngày một ngày hai mà giải quyết được, vì vậy cần củng cố nơi sơ tán để anh em yên tâm chiến đấu. Lãnh đạo mỏ thành lập bộ phận hậu cứ (khu sơ tán), gồm 1 lãnh đạo mỏ, khu trưởng 10 khu, cùng các đồng chí đảng viên già không ở lại được; có nhiệm vụ liên hệ với chính quyền và các bản nơi sơ tán để có chỗ ăn, ở. Mỏ cử một tổ y sỹ mang theo thuốc men vào chăm sóc sức khỏe; một tổ bảo vệ vào làm công tác trật tự trị an. Khó khăn là lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, thì đã được bà con vùng sơ tán cưu mang, chia sẻ. Có một chuyện đáng nhớ: cháu Vũ Đình Chiến, con ông bà Vũ Thóa được sinh ra khi sơ tán, đã mẹ tròn con vuông.
Thiết bị của mỏ được tổ chức sơ tán về Nông trường Thái Bình, gồm một số linh kiện quan trọng của máy xúc EKG 4,6m3, các máy mài, máy vạn năng và một số thiết bị khác, nếu cần có thể đưa về Sơn Động (Hà Bắc). Giấy tờ, tài liệu sơ tán về Trạm điều dưỡng Hà Bắc.
Ngay trong đêm 17-2, tổ xe tập lái của mỏ tại Pò Lọi đã tham gia chở thương binh của Trung đoàn 123 (bộ đội địa phương) ra bệnh viện Lạng Sơn.
Sáng 18-2, đoàn cán bộ tác chiến của Sư đoàn 338 lên làm việc và thông báo với mỏ: Sư đoàn đã cử Trung đoàn 462 (E462) phối hợp với Trung đoàn tự vệ của mỏ cùng chiến đấu bảo vệ mỏ. Hiện E462 vẫn đang ở An Châu (Quảng Ninh), chiều 18-2 mới hành quân thấu. Trước tình hình đó, mỏ đã điều 10 xe Volvo và xe gấu xuống chở quân, các xe còn lại tiếp tục chở các thứ vào khu sơ tán; sau đó mỏ điều 5 xe Isuzu sang phục vụ cho Sư 338, tiếp 6 xe Kpa3 phục vụ E462, cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Để ổn định lực lượng, từ 20-2-1979, các đơn vị bắt đầu ăn ở tập trung. Mỏ giao cho các bếp ăn ca phục vụ hai bữa chính, là các bếp công trường khai thác, bếp vận tải, bếp cơ quan, lò bánh mỳ Nà Cáy. Lương thực xuất gạo, bột mỳ dự trữ trong kho ngành đời sống; thực phẩm huy động của các gia đình cán bộ, công nhân, ghi lại số liệu, sau này mỏ sẽ thanh toán. Do không có thông tin liên lạc, nên khi chiến sự đã xảy ra, Bộ vẫn yêu cầu mỏ tổ chức sản xuất. Trước tình hình đó, Ban chỉ huy Trung đoàn đã hội ý cân đối hậu cần, cử 2 cán bộ về Hà Nội báo cáo và xin gạo, đồng thời tìm thủ kho gạo bên Lương thực xin gạo, nhưng không được. Ban chỉ huy quyết định phối kết hợp lực lượng tự vệ với Sư đoàn 338 để được cung cấp hậu cần. Anh em tự vệ yên tâm chiến đấu. Đến chiều 23-2, đồng chí Phạm Khắc, Thứ trưởng phụ trách quân sự của Bộ lên kiểm tra, đã tán thành phương án tác chiến và hiệp đồng chiến đấu của mỏ với Sư đoàn 338.
Phía Bản Chu (xã Khuất Xá), E462 đang chiến đấu cầm chân địch. Lực lượng xe của mỏ tiếp tục tiếp tế đạn dược, lương thực cho Trung đoàn. Sở chỉ huy tiền phương của Sư 338 lúc này đã di chuyển lên Đội lâm nghiệp xã Lợi Bác để tiện cho việc chỉ huy E462 và phối hợp với mỏ. Chiều ngày 22-2, đồng chí trung đoàn phó E462 vào làm việc với mỏ và cho biết, qua công tác trinh sát cho thấy, địch đang tiến hành chuyển quân về hướng tấn công vào mỏ, nhận định địch sẽ tấn công vào mỏ. Hiện lực lượng của trung đoàn đã huy động hết, không còn dự bị; có thể sáng hôm sau địch sẽ tấn công vào mỏ, nên mỏ cần chuẩn bị chiến đấu. Được trung đoàn thông báo, mỏ đã lệnh cho các đơn vị vào vị trí chiến đấu. Sáng hôm sau, lúc khoảng 5 giờ, địch bắt đầu nã pháo vào mỏ và cho bộ binh tấn công vào phía Bản Chu, bản Cảng. E462 đã chiến đấu ngoan cường, chặn đứng nhiều đợt tấn công của chúng. Bộ đội ta đã bị thương vong một số, được chuyển về tuyến sau (mỏ). Trước tình hình đó, mỏ lệnh cho Trạm y tế tập trung toàn bộ số y, bác sỹ và thuốc men băng bó và cứu chữa cho bộ đội. Lúc này Trạm y tế mỏ trở thành trạm xá tiền phương của Trung đoàn 462 và Trung đoàn tự vệ mỏ. Khi địch nã pháo, lực lượng bộ binh phía trước của chúng bắt đầu tấn công. Một số anh em tự vệ dao động rút về tuyến sau, đã được lãnh đạo Trung đoàn động viên tiếp tục quay lại vị trí chiến đấu.
Sáng 23-2, Sư 338 mời Ban chỉ huy E213 xuống để thống nhất phương án tác chiến. Tại sở chỉ huy tiền phương, Ban chỉ huy được Sư trưởng sư đoàn thông báo tình hình trên toàn tuyến biên giới; phương án bảo vệ mỏ; tăng cường các tuyến phòng thủ 1 và 2; mỏ cần có kế hoạch chuẩn bị lực lượng chi viện nhân vật lực, đạn dược, vũ khí cho Sư đoàn.
Sau khi thống nhất với F338, về đến sở chỉ huy, ban chỉ huy E213 quyết định triệu tập các đồng chí đảng viên ở các đơn vị về họp. Địa điểm họp tại Bãi Tre (khu Khe Xanh) của sở chỉ huy. Trung đoàn trưởng và chính ủy thông báo sơ bộ tình hình cho tất cả các đảng viên biết và quyết tâm của ta. Trung đoàn trưởng hạ quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ mỏ; phổ biến nhiệm vụ chiến đấu nếu địch liều lĩnh đánh vào mỏ, đồng thời ghi tên những người tình nguyện sang phối hợp với E462 để ra tuyến 1 chiến đấu. Lực lượng công binh gài mìn xong, trụ lại tại các kho, nếu địch tấn công vào, vật tư, thiết bị không di chuyển kịp sẽ cho nổ. Số anh em xung phong ra tuyến trước chiến đấu lên tới 300 đồng chí. Đợt 1, E213 mới thành lập 3 trung đội, gồm 96 chiến sỹ, được trang bị súng AK và súng B40, tập trung tại nhà ăn Cơ bản; đến 5 giờ chiều bàn giao cho E462, tại sân kho xã Sàn Viên. Cùng ngày, mỏ đã bàn giao cho E462 1 khẩu ĐKZ82 và 2 khẩu cối 82 ly cùng cơ số đạn; kho mìn các loại bàn giao cho F338 để phục vụ phòng thủ bổ sung các trận địa sư đoàn đảm nhận.
Từ ngày 24-2, địch nã pháo liên tục và dữ dội vào mỏ với hàng ngàn quả các loại, đồng thời tập trung tấn công vào hướng mỏ. Đêm 25-2, địch đã chiếm Bản Chu bên phía nam sông Kỳ Cùng, E462 kịp thời nổ súng, đánh bật chúng trở lại bờ bắc vào sáng ngày hôm sau. Từ đó, sự gắn bó giữa E213 (Na Dương) và E462 (F338) càng sâu sắc và tiếp tục chiến đấu kiên cường trên tuyến 1 (bản Cốc Nhãn, xã Yên Khoái; bản Luồng, xã Tú Mịch); sau về phòng thủ tuyến 2 (bản Chu, bản Tầm Chả, bản Cảng xã Khuất Xá), tạo thành một vành đai kiên cường bảo vệ mỏ. Trong chiến đấu, tự vệ mỏ đã có 2 đồng chí hy sinh là Nông Minh Quý và Nông Minh Đức, bị thương nặng 2 đồng chí Nguyễn Như Hải và Bùi Xuân Hợi. Nhiều đồng chí khác bị thương nhẹ, số các đồng chí này không rời trận địa. Và còn có các tấm gương anh dũng chiến đấu như lái xe Vi Văn Thắng, Nguyễn Văn Sinh và chiến sỹ súng B40 Dương Công Điều... Trong lúc đang chiến đấu ác liệt, mỏ tiếp tục điều xe chở bộ đội Trung đoàn 196 lên tăng cường và chuẩn bị quân số tự vệ bổ sung đợt 2 cho E462.
Sau 10 ngày tấn công bằng pháo binh và bộ binh hòng chiếm mỏ than Na Dương, song địch đã không đặt chân vào được. Mỏ vẫn bảo toàn được lực lượng xe máy, thiết bị.
Trong chiến đấu, mỏ vẫn thường xuyên liên lạc và nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ. Một số bức điện khẩn mỏ gửi đi còn lưu lại:
Điện khẩn số 8 (7h30, ngày 6-3-1979)
Mỏ Na Dương gửi Bộ điện và than
Tình hình chiến sự căng thẳng. Địch áp sát mỏ. Mỏ đã cử 3 trung đội tự vệ chi viện cùng E462 chiến đấu. 5 xe Isuzu F338 trưng dụng. 6 xe Kpa3 được điều động cho E462. Cẩu 6,5 tấn và cẩu 12,5 tấn phục vụ cẩu hàng. Máy xúc 4,6m3 và máy mài đã sơ tán xong. Giao cho lực lượng quân đội 6,4 tấn dầu, 8 tấn xăng, 2.625kg thuốc nổ, 13.363 kíp số 8, 15.779m dây cháy chậm, 4.350m dây nổ. Mỏ đang tháo máy mài trục cơ, máy doa. Trời mưa, tốc độ sơ tán chậm. 
Điện khẩn số 9 (17h, ngày 7-3-1979)
Na Dương gửi Bộ điện và than
Địch chưa vào được mỏ. Bộ đội và tự vệ đang chiến đấu. Tiếp tục sơ tán thiết bị, nhưng do mưa nên xe chưa chuyển đi được. Xăng dầu tiếp tục giao cho F338.
Điện khẩn số 2, ngày 8-3-1979
Mỏ Na Dương gửi Bộ điện và than
Từ 17h ngày 17-3 đến nay, 8-3, địch nhiều lần pháo kích vào mỏ, trúng khu vực để phụ tùng, vật tư  nhưng không gây thiệt hại gì.
Thượng khẩn, 13h40, ngày 9-3-1979
Mỏ Na Dương gửi Bộ điện và than
Địch pháo kích vào mỏ từ 20h đến 24h ngày 8-3, từ 5h đến 6h ngày 9-3. Thiệt hại không đáng kể. 4h sáng ngày 9-3, lực lượng tự vệ của mỏ đang cùng E462 chiến đấu tại bản Tầm Chả (xã Khuất Xá). Tự vệ mỏ hy sinh 2 đồng chí, bị thương nặng 2 đồng chí. 18h tối làm lễ truy điệu.
Trong chiến tranh, tổng cộng mỏ đã điều động vũ khí, khí tài, nguyên, nhiên liệu gồm:
2 khẩu ĐKZ 82 ly và 42 quả đạn; 2 cối 82 ly và 890 quả đạn; 970 quả đạn cối 60 ly. Vận chuyển quân trang, quân dụng, vũ khí, lương thực, hậu cần nhu yếu phẩm tổng cộng 2.533 tấn; xăng 25,5 tấn, dầu diezen 14,5 tấn; thuốc nổ 2.695kg, kíp nổ 13.363 cái, dây cháy chậm 15.979m.
Chiến tranh kết thúc, tự vệ mỏ được giao nhiệm vụ tháo gỡ, rà phá mìn khu vực Nhà máy điện Lạng Sơn; đường điện 35kV Lạng Sơn - Na Dương, Lạng Sơn - Tam Lung; khu vực hai đầu ngầm Pò Lọi. Trong thời gian ngắn, lực lượng đã hoàn thành công việc, tháo gỡ được 152 quả mìn các loại, phá nổ 361 quả, cùng công binh F338 thu gom hàng ngàn quả mìn khác trên trận địa các tuyến 2 và 3; góp phần sớm đưa Nhà máy điện hoạt động trở lại, thông tuyến đường quốc lộ 4B đoạn qua ngầm Pò Lọi.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ mỏ, bảo vệ biên giới phía bắc, tập thể và cá nhân lực lượng tự vệ mỏ được khen thưởng:
- Trung đoàn tự vệ 213 được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
- Đồng chí Triệu Tùng được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
- 4 đồng chí được Trung ương Đoàn tặng Huy chương dũng cảm.
- 1 chiến sỹ tự vệ nữ được đi dự Festival Matxcơva.
Cũng từ năm 1979, cán bộ, chiến sỹ Sư 338, Trung đoàn 462 và công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương trở thành các đơn vị kết nghĩa với nhau, cùng chia sẻ những khó khăn, thuận lợi trong chiến đấu cũng như trong huấn luyện, xây dựng đơn vị chính quy, hiện đại, trong sự phát triển cuả mỏ, của đơn vị; cho đến hôm nay, tình đoàn kết quân đội - công nhân từ ngày ấy vẫn keo sơn, bền chặt.
Sau khi chiến tranh biên giới kết thúc, tháng 4-1979, công nhân, cán bộ và lực lượng tự vệ mỏ vui mừng được đón đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam về thăm. Đây là nguồn động viên, cổ vũ kịp thời, quý báu với công nhân mỏ. Công nhân, cán bộ mỏ lại tiếp tục bắt tay vào giải quyết hậu quả sau chiến tranh, khẩn trương đưa sản xuất trở lại bình thường. Trước hết đưa số các gia đình đi sơ tán trở về; tổ chức ổn định đời sống cho họ; vận chuyển các thiết bị, vật tư từ các nơi sơ tán về, khẩn trương lắp đặt trở lại; mua thuốc nổ, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho khai thác... Các phòng, ban, công trường, phân xưởng lại vào vị trí sản xuất như chưa hề đã xảy ra chiến tranh. Các phong trào thi đua được phát động, chỉ trong một thời gian ngắn, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỏ lại trở lại với nhịp sống sôi động vốn có.
Tháng 3-1980, trong các ngày 14, 15, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ lần thứ XI được tổ chức. 150 đảng viên ưu tú đại diện cho 246 đảng viên toàn mỏ về dự. Đại hội bầu ra BCH gồm 13 đồng chí, đồng chí Hoàng Văn Bính được bầu làm Bí thư, thay đồng chí Trần Lê Mạo nghỉ chế độ; đồng chí Lương Thanh Thuận được bầu làm Phó bí thư thường trực; đồng chí Triệu Tùng là Phó bí thư - Giám đốc mỏ.
Cuối năm 1979, công trình Thủy điện sông Đà (gọi là công trình thế kỷ) được khởi công, với sự viện trợ đồng bộ của Liên Xô. Do đó cần có ngay nguồn xi măng lớn cho công trình, nên đầu năm 1980 Nhà nước xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn, công suất 1,2 triệu tấn/năm, nguồn than để nung Clinker sản xuất xi măng của Nhà máy lấy từ mỏ Na Dương. Vì vậy công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương có thêm điều kiện để mở rộng sản xuất đáp ứng yêu cầu của nhà máy xi măng mới, song cũng là một thử thách mới hết sức có ý nghĩa với người thợ mỏ Na Dương vốn đã giàu truyền thống anh hùng trong chiến đấu cũng như trong sản xuất.
 
 
 
Nguyễn Quang Tình sưu tầm và biên tập
theo tài liệu của Công ty than Na Dương và
tài liệu lưu trữ tại Tổng công ty
 
( Hết phần IV)
 
Số lượt đọc: 4386 - Cập nhật lần cuối: 06:28 | 06/03/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ