CÔNG TY THAN NA DƯƠNG THỜI KỲ SẢN XUẤT, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU, XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG, CHI VIỆN TIỀN TUYẾN GÓP PHẦN VÀO SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. ( Giai đoạn từ 1966 đến 1975)



                                                                         Nguyễn Quang Tình

Trước những thất bại liên tiếp trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng đánh phá ra miền Bắc, gây áp lực để ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương lớn, hòng cứu vãn tình thế của chúng ở chiến trường miền Nam. Máy bay giặc đã liên tiếp xâm phạm không phận Lạng Sơn, trong đó có Lộc Bình và mỏ Na Dương.
Cuối tháng 3 năm 1965, Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 3 đã ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách của cách mạng nước ta. Nghị quyết nêu rõ: "Tình hình một nửa nước có hòa bình, đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh, với hình thức, quy mô và mức độ khác nhau ở mỗi miền. Miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn. Nhưng nhiệm vụ của miền Bắc vừa xây dựng vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam... Tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc". Nghị quyết cũng chỉ rõ việc chuyển hướng nền kinh tế - xã hội ở miền Bắc từ thời bình sang thời chiến.
Ngay năm đầu chiến tranh leo thang của giặc Mỹ ra miền Bắc, Nhà máy xi măng Hải Phòng đã là mục tiêu đánh phá ác liệt, đồng thời là nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa sống còn đến sản xuất của Than Na Dương.
Ngày 20-4-1966, Đại hội đại biểu Đảng bộ mỏ Na Dương lần thứ IV, có 200 đảng viên ưu tú, đại diện cho 402 đảng viên tham gia, đã thành công tốt đẹp. Đại hội bầu ra Ban chấp hành đảng ủy gồm 11 đồng chí, đồng chí Hoàng Liên Đoàn được tái cử giữ chức Bí thư(chuyên trách; đồng chí Nguyễn Thượng Vũ do Bộ điều từ nơi khác đến giữ chức Giám đốc mỏ).
Đại hội đã ra nghị quyết:
1. Quán triệt đầy đủ và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết lần thứ 11 của BCH Trung ương về việc chuyển nhiệm vụ sản xuất của mỏ từ thời bình sang thời chiến, đòi hỏi sản xuất phải kết hợp với tăng cường củng cố lực lượng tự vệ, vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu nếu địch đánh phá vào mỏ.
2. Trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng phải đảm bảo duy trì sản xuất than để cung cấp cho Nhà máy xi măng Hải Phòng; giữ vững trật tự an toàn xã hội khu vực mỏ đóng quân; đưa mọi hoạt động sản xuất và đời sống phù hợp với hoàn cảnh thời chiến.
3. Tăng cường, khẩn trương tổ chức các đơn vị tự vệ, cả về biên chế cũng như trang bị vũ khí; xây dựng phương án tác chiến, phối thuộc tác chiến cụ thể với các đơn vị bạn; bố trí lực lượng theo các phân xưởng; thường xuyên tập luyện; thường trực cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.
4. Thực hiện chỉ thị của bộ chủ quản: vừa tổ chức tốt nhiệm vụ sản xuất, vừa khẩn trương xây dựng phân tán các khu công nhân, các kho tàng, vật tư thiết bị, nguyên nhiên liệu nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và cơ sở vật chất khi địch đánh vào khu mỏ.
Do làm tốt công tác phát triển Đảng, xây dựng củng cố chi, đảng bộ, đặc biệt trong 5 năm, 1962-1966, phát triển thêm được 239 đảng viên, tháng 6-1966, đồng chí Nông Lân Anh được thay mặt Đảng bộ mỏ đi dự và báo cáo điển hình tại Hội nghị chi bộ, đảng bộ 4 tốt toàn miền Bắc tại thủ đô Hà Nội.
Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ.
Không có gì quý hơn độc lập, tự do!...".
Năm 1966, chiến tranh leo thang của giặc Mỹ càng ác liệt và đã bắt đầu đánh phá Lạng Sơn. Mỏ tiếp tục nhận lệnh của Bộ phải phân sơ tán các khu công nhân, kho tàng nhằm giảm thiệt hại ở mức tối đa nếu bị đánh phá.
Khu kho được xây phân tán ở các quả đồi xung quanh Phân xưởng sản xuất vật liệu (khu Sơn Hà I, Sơn Hà II).
Khu Pác Hán xây để phân tán Phân xưởng vận tải và Công trường III.
Khu Còn Phạc cho phân xưởng cơ khí.
Khu suối Khòn Chè cho Công trường II và Trạm xá.
Toàn bộ các khu này được xây gạch, cửa ván ghép, mái lợp tranh.
Khu Công trường Kiến thiết cơ bản ở Nà Cáy.
Khu Công trường Vật liệu ở Tồng Gianh.
Xây dựng khu kho sơ tán vật tư thiết bị quan trọng và tài liệu tại chân núi Mẫu Sơn (bản Tẳng).
Các phòng Kỹ thuật, Cơ điện, Lao động tiền lương, Ban an toàn sơ tán, làm việc ở làng Khòn Quanh; làm lán tạm, tường trát vách, lợp tranh.
Đảng ủy, Giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên, tổng đài điện thoại, nhà trẻ được xây tường lợp ngói, có làm hầm chống bom rất kiên cố so với lúc bấy giờ. Khu ấy lúc đó được gọi là khu "Khe xanh".
Là đơn vị sản xuất công nghiệp trung ương đóng trên địa bàn của tỉnh, mỏ đã xây dựng được một tiểu đoàn tự vệ mạnh. Hầu hết lực lượng tự vệ là bộ đội chuyển ngành về, đã có nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu, lại gồm nhiều quân binh chủng. Vì vậy mỏ được Quân khu Việt Bắc và Tỉnh đội Lạng Sơn đặc biệt quan tâm, trang bị vũ khí hiện đại lúc bấy giờ, như súng cao xạ 20 ly, 12,7 ly, đại liên, trung liên và được Phòng cao xạ quân khu trực tiếp huấn luyện.
Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, mỏ đã xây dựng các khẩu đội pháo chuyên trách thoát ly sản xuất, ăn ở, sinh hoạt tại chỗ như quân đội; mỏ chấm công trả lượng như đi sản xuất, kể cả chế độ ăn giữa ca. Sau này bộ chủ quản duyệt quỹ lương cho bộ phận tự vệ trực chiến pháo chuyên trách tới 46 người, trong đó trung đội pháo 20 ly 25 người, trung đội 12,7 ly 15 người, tổ cảnh giới báo động máy bay 4 người và 2 cán bộ chuyên trách tự vệ.
Lực lượng pháo phòng không xây dựng thành 4 trận địa. Pháo 20 ly có 2 trận địa. Trận địa 1 đặt tại đồi Nà Có (phía sau xưởng cơ điện cũ, nay là nhà máy nhiệt điện). Trận địa 2 tại đồi không tên khu Nà Cáy. Pháo 12,7 ly cũng có 2 trận địa, một đặt ở khu đồi Hào 1 và một ở đồi Bưu điện (nay là đồi Mẫu giáo thị trấn Na Dương).
Trước khi xây dựng lực lượng trực chiến chuyên trách, mỏ tổ chức phân công trực chiến theo phân xưởng, chủ yếu là công nhân các công trường 1 và 2, thay nhau, theo phương án công nhân ca 2 trực chiến ca 1, công nhân làm hết ca 1 về trực chiến đến sáng hôm sau. Ngoài các trận địa pháo còn tổ chức 1 trận địa trực chiến súng máy, gồm 1 khẩu đại liên (macxim) và 1 khẩu trung liên (bạc đầu), đặt tại khu đồi Chuyên gia, nay là khu nhà ở, nhà khách của nhà máy nhiệt điện.
Trong các năm từ 1964 đến 1966, giặc Mỹ đánh phá Lạng Sơn chủ yếu vào thị xã, dọc theo tuyến đường sắt và quốc lộ 1A; ác liệt nhất là khu vực các huyện phía nam của tỉnh, tại các trọng điểm: bến phà Na Hoa, khu vực Sông Hóa, Đồng Bành. Cầu Sông Hóa là mục tiêu chúng đánh phá dữ dội nhất. Từ đầu năm 1967, chúng mở rộng đánh phá huyện Lộc Bình, theo tuyến quốc lộ 4B, mục tiêu chủ yếu là các cầu, ngầm. Tháng 8-1967, chúng ném bom, bắn rôcket phá sập cầu Pò Lọi, cắt đứt tuyến giao thông Lạng Sơn đi Quảng Ninh, Hà Bắc, cũng là năm chúng đánh phá vào mỏ hai lần, bắn rôcket và rải bom bi, nhưng không gây thương vong về người và cơ sở vật chất, vì mỏ đã cảnh giác cao độ.
Trong những lần giặc Mỹ đánh phá vào Lạng Sơn và Lộc Bình, tự vệ mỏ đã 3 lần nổ súng trực tiếp chiến đấu, trong đó một lần tham gia bắn rơi máy bay của chúng.
Lần thứ nhất, tháng 7-1965, lúc đó tự vệ mỏ chưa được trang bị pháo 20 ly và 12,7 ly. Máy bay giặc bay qua, tất cả tự vệ trực chiến đều nổ súng, bằng súng bộ binh k44, đại liên và trung liên. Là lần đầu tiên đánh trả máy bay địch, nên chưa xác định đúng tầm cao của mục tiêu, do đó không đạt hiệu quả. Sau trận đánh, tự vệ mỏ họp rút kinh nghiệm cho các trận chiến đấu sau.
Lần thứ hai, khi máy bay địch vào đánh phá Lạng Sơn, bay từ phía biển vào, bayqua khu vực mỏ, chúng bắt đầu hạ thấp độ cao, nhưng chưa đạt đến độ cho phép nổ súng. Mãi đến tháng 4-1966, chủ quan, chúng hạ thấp hẳn độ cao, trận địa pháo 20 ly của mỏ đã nổ súng kịp thời. Từ đó chúng không dám hạ thấp độ cao nên hạn chế độ chính xác khi bắn phá các mục tiêu mà chúng muốn phá hoại.
Lần thứ ba, tháng 9-1972, Tỉnh đội Lạng Sơn thông báo máy bay giặc và không quân ta đang chiến đấu trên bầu trời tỉnh Hà Bắc, có thể sẽ qua không phận Lạng Sơn. Nhận được điện báo, tất cả các khẩu đội pháo trực chiến của mỏ đều trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao độ. Đúng như dự đoán, một tốp máy bay AD6 của giặc bay từ Lạng Sơn hướng về phía Quảng Ninh để thoát ra biển, trận địa 12,7 ly đã kịp thời nổ súng tấn công bất ngờ. Các chiến sỹ phát hiện chiếc đi đầu, cánh phải của nó đã bị trúng đạn, phát lửa và khói. Sau đó, khi bay qua địa phận Quảng Ninh, lực lượng tự vệ ở đây bồi tiếp, nó bùng cháy và rơi xuống biển. Vì vậy, trong chiến thắng này, tự vệ mỏ Na Dương được ghi công công nhận đã góp phần bắn rơi máy bay giặc Mỹ.
Cùng với lực lượng trực chiến, các lực lượng khác của tự vệ mỏ cũng sẵn sàng chi viện cho chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Năm 1967, lực lượng công binh của mỏ tháo 2 quả bom nổ chậm tại đập bản Chành (xã Đông Quan), 5 quả bom nổ chậm và kích nổ 2 quả khác tại cầu ngầm Pò Lọi, 2 quả tại cầu Khủn Khỉn - ngã ba đường rẽ xã Tú Đoạn. Bên cạnh lực lượng tự vệ, công nhân, cán bộ của mỏ cũng trực tiếp tham gia phục vụ chiến đấu. Khi giặc Mỹ đánh phá lạng Sơn lần đầu, là đơn vị có nhiều xe máy, công nhân vận hành, sửa chữa, mỏ được bộ chủ quản giao nhiệm vụ ứng cứu tại các khu vực từ Tiên Yên (Quảng Ninh) về mỏ và từ mỏ đi thị xã Lạng Sơn, xuống đến ga Đồng Mỏ (huyện Chi Lăng). Các trường hợp ứng cứu chủ yếu về xe. Xe của bộ đội và xe của các lực lượng khác, kể cả xe của nước bạn (Trung Quốc), khi chiến đấu hay giải tỏa hàng, nếu bị hỏng hoặc bị đổ, mỏ có nhiệm vụ sửa chữa hay trục kéo. Mỏ đã cử một tổ sửa chữa và trục kéo thường trực 24/24h, khi có lệnh là lên đường ngay. Nhận được yêu cầu của đơn vị bạn, mỏ điều máy gạt C100 cùng công nhân đến san gạt, xây dựng 2 trận địa tên lửa tại nông trường Đông Quan (xã Đông Quan) và tại bản Mới (xã Sàn Viên). Khi máy bay giặc đánh sập cầu Pò Lọi gây tắc đường, mỏ điều máy gạt và lực lượng ra khẩn trương làm đường phụ để thông xe ngay trong đêm; sau đó máy gạt còn ở lại phối hợp với giao thông Lạng Sơn làm xong ngầm Pò Lọi.
Năm 1967, khi máy bay giặc bị bắn rơi, giặc lái nhảy dù xuống khu vực rừng thuộc huyện Ba Chẽ (Quảng Ninh). Suốt đêm địch quần đảo hòng cứu phi công của chúng, cấp trên yêu cầu mỏ chi viện lực lượng. Ngay trong đêm, mỏ điều xe S4000 và lực lượng đến phối hợp với đơn vị bạn, vừa tiếp cận khu vực giặc lái rơi xuống, vừa bắn trả máy bay giặc yểm hộ trực thăng đến ứng cứu người của chúng. Kết quả tên giặc lái đã bị bộ đội chủ lực Quảng Ninh tóm gọn.
Một lần khác, khi giặc lái Mỹ nhảy dù xuống xã Ái Quốc (Lộc Bình), đường không đi được bằng ô tô, mỏ cử một tổ chạy bộ vào cùng phối hợp truy kích, song tới nơi, tên giặc lái ấy đã bị dân quân xã vây bắt, do hắn chống trả quyết liệt nên đã bị lực lượng tiêu diệt. Một lần, máy bay ta và địch chiến đấu, không may máy bay ta bị giặc bắn cháy, rơi xuống bản Khòn Phạc, xã Đông Quan. Người phi công đã hy sinh. Lực lượng tự vệ mỏ đã trao đổi với dân quân địa phương bảo vệ thi hài phi công và xác máy bay, đồng thời báo về Tỉnh đội Lạng Sơn. Tối cùng ngày, sân bay Kép (Hà Bắc) lên tiếp nhận, đưa thi thể anh về mỏ, đặt tại phòng bảo vệ; sau khi làm xong các thủ tục, sáng hôm sau anh đã được đưa tiễn về sân bay.
Với lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc, theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước, công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương đã sẵn sàng tòng quân ra trận để được trực tiếp cầm súng đánh giặc. Nhiều tấm gương cảm động, như viết đơn tình nguyện bằng máu; hai anh em ruột cùng xin nhập ngũ (hai anh em Vũ Hồng Trường, Vũ Xuân Hữu, Trần Danh Văn và Trần Danh Viết chồng không đủ cân, vợ trực tiếp gặp ban tuyển quân xin cho chồng được vào bộ đội (vợ chồng chị Nguyễn Văn Thạo ở Phòng cung tiêu); con cán bộ tình nguyện, bố đề nghị cho con nhập ngũ để làm gương cho người khác (anh Phạm Bá Ái, con đồng chí Phạm Bá Ân, nguyên Phó giám đốc mỏ).
Từ năm 1964 đến 1966, mỏ là đơn vị sản xuất than trọng yếu phục vụ công nghiệp xi măng, do đó cấp trên chưa tập trung tuyển quân tại mỏ. Theo yêu cầu của trên, mỏ chỉ cử một số các đồng chí cán bộ tái ngũ làm nhiệm vụ xây dựng các đơn vị hoặc làm cán bộ khung cho các huyện như Bắc Sơn, Lộc Bình..., cử 3 đồng chí là bộ đội miền Nam tập kết lên cấp trên nhận nhiệm vụ trở về Nam. Từ năm 1967, theo yêu cầu của chiến trường và tình hình sản xuất, bộ chủ quản mới giao chỉ tiêu tuyển quân tới mỏ. Quân được tuyển chủ yếu là công nhân lao động; công nhân kỹ thuật giao tới bậc 3; nhân viên giao tới cán sự 4; cán bộ kỹ thuật tới trung cấp, nhưng phải có người thay thế.
Đợt đầu tiên năm 1967, có 150 đồng chí tòng quân, được tổ chức thành đại đội, lấy phiên hiệu là Đại đội 213 (lấy ngày thành lập mỏ 21-3). Đây là đợt tòng quân rầm rộ nhất. Ban chấp hành Đảng ủy mỏ - đồng chí Hoàng Liên Đoàn, Bí thư lên trao cờ "Quyết thắng", đồng chí Vương Xuân Ngơn, công nhân Công trường I, bộ đội tái ngũ, lên đón nhận và thay mặt anh em hứa quyết tâm. Địa điểm giao quân tại bản Phai Sen, xã Tú Đoạn (Lộc Bình). Năm 1968, 120 đồng chí tiếp tục lên đường, chủ yếu được biên chế vào Sư đoàn 304B...
Qua 21 đợt tuyển quân, gần 1000 công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương đã lên đường ra trận. Những người thợ mỏ mặc áo lính đã có mặt trên khắp các chiến trường A, B, C, K. Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, là thương binh các hạng, nhiều đồng chí đã trưởng thành trong quân đội, xứng đáng với lá cờ quyết thắng mà Đảng ủy mỏ đã trao, với lớp cha anh là bộ đội Điện Biên năm xưa, và một điều hết sức trân trọng: mỏ chưa bao giờ giao quân thiếu; mọi người tòng quân đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Từ ngày 22 đến 23-7-1967, Đại hội Đảng bộ mỏ lần thứ V được tổ chức. 200 đảng viên ưu tú thay mặt cho 428 đảng viên tham dự. Đại hội bầu BCH gồm 13 đồng chí, đồng chí Hoàng Liên Đoàn được tái cử giữ chức Bí thư. Đại hội đã kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết khóa IV, chỉ rõ những thắng lợi cơ bản trong việc chỉ đạo sản xuất và chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu của công nhân, cán bộ; đồng thời nêu ra các tồn tại, yếu kém cần khắc phục, sửa chữa. Đại hội kêu gọi mỗi cán bộ, đảng viên và công nhân lao động thi đua lao động sản xuất, bám máy, bám công trường, phân xưởng để sản xuất; thi đua với đồng bào miền Nam thắng Mỹ. Lực lượng tự vệ tham gia trực chiến phải nêu cao tinh thần cảnh giác hơn nữa, kịp thời nổ súng đánh thắng giặc ngay từ loạt đạn đầu nếu chúng dám xâm phạm vào vùng mỏ.
Vừa chiến đấu anh dũng và sẵn sàng phục vụ chiến đấu, công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương với khẩu hiệu "Vì miền Nam ruột thịt, mỗi người làm việc bằng hai" tổ chức tốt sản xuất ba ca liên tục.
Song ngay từ những tháng đầu năm 1966, chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày càng diễn ra ác liệt. Các cơ sở sản xuất, hạ tầng cơ sở đường sá, cầu cống bị phá hủy, trong đó Nhà máy xi măng Hải Phòng bị đánh phá ác liệt, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của mỏ. Tiêu thụ than Na Dương do đó giảm dần. Là loại than dễ tự bốc cháy, mỏ không thể lấy than lên đưa vào kho bãi dự trữ. Vì vậy bắt buộc mỏ phải giảm sản lượng khai thác và thu hẹp sản xuất. Năm 1966 tiêu thụ hơn 39 ngàn tấn, chỉ bằng hơn 60% so với năm 1965. Năm 1967, giảm xuống còn hơn 27 ngàn tấn, tức chỉ còn khoảng 43% so với năm 1965. Mặt khác, than chuyển bằng tàu hỏa từ Lạng Sơn về Hải Phòng cũng hết sức khó khăn, do địch đánh phá, có lúc phải vận chuyển bằng đường bộ qua Sơn Động (Hà Bắc) về Hải Phòng... Sản lượng tiêu thụ giảm, máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất không được cung cấp thêm, vật tư phụ tùng thay thế thiếu thốn; thiết bị lại hầu hết là cũ, do đó năng suất lao động giảm. Công nhân thiếu việc làm, đời sống khó khăn lại khó khăn thêm, điều đó ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm và tư tưởng người lao động. Ngày 31-10-1966, đã xảy ra một tai nạn đáng tiếc: mìn nổ, đất đá văng vào đầu 2 công nhân lái xe đang họp trong nhà giao ca, cách bãi mìn 25m, làm họ tử vong...
Chỉ trong 2 năm 1966-1967, bộ chủ quản điều bớt 1385 người của mỏ đi nơi khác (năm 1966 là 450 người, 1967 thêm 935 người). Số người này được bổ sung cho các mỏ Bố Hạ (Bắc Giang), Khánh Hòa, Núi Hồng, cơ khí Cù Vân (Bắc Thái), một số về các mỏ thuộc Công ty than Hòn Gai (Quảng Ninh). Điều đáng quý nhất, những người chuyển đi đều luôn nhớ tới mảnh đất Na Dương yêu dấu và đều trưởng thành trên các cương vị công tác mới. Ngoài ra, mỏ còn cử một số công nhân, cán bộ có trình độ học vấn đi học các trường đại học, trung học chuyên nghiệp.
Công nhân mỏ Na Dương là thế! Chia tay nhau, người lên đường ra trận, người đi các đơn vị khác, người ở lại mỏ... tất cả đều có một niềm tin hẹn ngày tái ngộ tại mỏ Na Dương.
Giữa lúc khó khăn đó, một niềm vui đã đến với công nhân mỏ. Năm 1966, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam Hoàng Quốc Việt đã về thăm mỏ. Đồng chí ân cần chia sẻ khó khăn với giai cấp công nhân, động viên khích lệ mỏ quyết tâm vượt qua giai đoạn khó khăn, thử thách trước mắt, ổn định đời sống cho công nhân, cán bộ.
Chiến tranh ngày càng diễn ra ác liệt. Nhà máy xi măng Hải Phòng bị hư hại nặng, ít có khả năng khôi phục lại sản xuất. Tháng 03-1968, Bộ có quyết định giải thể mỏ than Na Dương, chỉ để lại bộ khung cán bộ và công nhân kỹ thuật chủ chốt để bảo vệ thiết bị và các công trình của mỏ; tiếp tục chuyển một số công nhân, cán bộ sang khu vực sản xuất khác.
Quyết định giải thể mỏ đã ảnh hưởng và tác động lớn đến tư tưởng và đời sống người lao động. Tuy nhiên, họ cũng rất thấu hiểu những khó khăn của đất nước, của mỏ, nên vẫn tự nguyện ra đi, đến một đơn vị khác mà ở đó chưa biết được sẽ có những khó khăn gì chờ đón. Ra đi, họ đều có chung suy nghĩ và quyết tâm phải chấp hành nghiêm quyết định của cấp trên và làm tốt công việc được phân công, góp phần giải quyết khó khăn chung của đất nước, tiếp tục đóng góp một phần sức lực vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc. Bằng suy nghĩ ấy, công nhân, cán bộ thanh thản ra đi nhận nhiệm vụ mới. Từng đợt chia tay nhau, người đi trước, người đợt sau... Một vùng mỏ mới ngày nào sầm uất, giờ vào ca, tan ca ríu rít; người đi hào, người xuống moong, tiếng máy khoan, máy xúc, ô tô rộn rã; nay thoắt không còn, thay vào đó là nỗi buồn chia tay, nỗi phấp phỏng lo âu chờ đợi. Rồi đây cuộc sống, gia đình sẽ ra sao... Càng nghĩ càng căm thù giặc Mỹ. Chúng là kẻ đã gây ra cảnh khó khăn này!
Ngoài việc tiếp tục tổ chức cho công nhân, cán bộ chờ lệnh lên đường, mỏ lo ổn định đời sống cho người ở lại, động viên nhau tiếp tục sản xuất; tổ chức sửa chữa và niêm cất vật tư thiết bị. Một bộ phận tiếp tục bốc xúc đất đá, tổ chức đào mương rãnh, sửa đường chống lũ lụt tại khai trường với hy vọng tiếp tục được sản xuất trở lại. Mỏ điều 300 người đi làm đường Phương Đông, theo hợp đồng với Ty giao thông tỉnh Lạng Sơn; điều 5 máy gạt, 3 ô tô giúp chính quyền và nhân dân địa phương đắp đập Tà Keo, một công trình đại thủy nông cấp quốc gia. Công trình đã phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển nông lâm của tỉnh. 800ha ruộng một vụ của các xã Tú Đoạn, Sàn Viên, Khuất Xá (Lộc Bình) trở thành ruộng hai, ba vụ. Công trình đã được Tổng bí thư Lê Duẩn về thăm. Ngoài ra, mỏ còn điều máy bơm và công nhân đi chống hạn cho các xã Tú Đoạn, Quan Bản (Lộc Bình). Đoàn thanh niên mỏ cùng với đoàn thanh niên xã Lợi Bác trồng hàng vạn cây xanh phủ xanh đất trống, đồi trọc cải thiện môi trường. Những việc làm đó đã thắt chặt mối đoàn kết công nông liên minh giữa mỏ và địa phương huyện, tỉnh, nhân dân các dân tộc nơi đơn vị đóng quân, đồng thời, mỏ cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện về lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm để ổn định đời sống, sinh hoạt của công nhân.
Chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ bằng máy bay bị thất bại nặng nề, do đó chúng giảm dần mức độ đánh phá để cứu vãn tình thế. Nhân thời cơ đó, các ngành công nghiệp ở miền Bắc lại tiếp tục phát triển, trong đó có công nghiệp xi măng. Nhà máy xi măng Hải Phòng được khôi phục. Bộ Công nghiệp nặng đã cân nhắc đến các nhu cầu về than, trong đó có than Na Dương.
Tháng 10 năm 1968, Bộ quyết định phục hồi sản xuất của mỏ. Khó ai là công nhân, cán bộ than Na Dương quên được ngày tháng đó. Đoàn cán bộ của Bộ lên mỏ, sau khi thông báo sơ bộ tình hình với lãnh đạo mỏ, một cuộc họp đột xuất các cán bộ chủ chốt được triệu tập. Sau lời giới thiệu của đồng chí Bí thư Đảng ủy mỏ, đồng chí Phan Điền, Trưởng phòng kỹ thuật Tổng công ty mỏ đã đọc quyết định của Bộ về việc phục hồi sản xuất của mỏ than Na Dương.
Trong niềm vui hân hoan của những người có mặt được chứng kiến giờ phút đáng nhớ ấy, sau hội nghị, lãnh đạo mỏ đã lệnh cho máy phát điện 44kVA dự phòng phát điện trở lại để cho hệ thống truyền thanh làm việc, thông báo rộng rãi tới mọi công nhân, cán bộ về quyết định phục hồi sản xuất của mỏ - quyết định làm sống lại mọi sinh hoạt của mỏ. Tất cả những người chuẩn bị ra đi được giữ lại, rà soát lại toàn bộ cán bộ, công nhân kỹ thuật để có phương án bổ sung. Đây cũng là thời gian hẫng hụt lao động, nhất là lực lượng lao động kỹ thuật, thợ vận hành, thợ sửa chữa lành nghề. Để chuẩn bị cho việc thực hiện kế hoạch năm 1969 và các năm tiếp theo, mỏ mở cửa đón tiếp các công nhân, cán bộ trước được điều đi, nay lại có nguyện vọng trở lại. Hàng trăm công nhân, cán bộ từ các mỏ lại quay lại Na Dương trong niềm vui sum họp. Cuối năm 1968, mỏ tổ chức ngay đợt tuyển công nhân Thanh Hóa để bổ sung cho các công trường khai thác và xây dựng cơ bản; khẩn trương chỉ đạo công tác tổ chức và sản xuất, kiện toàn lại các phòng ban, ngành chuyên môn nghiệp vụ; đưa thiết bị đã được niêm cất ra làm công tác chuẩn bị; tăng cường thêm thiết bị xe máy, nguyên nhiên liệu. Các loại xe Isuzu, Praha, Kamaz, Nisan, máy khoan, máy bơm chống axit được bổ sung trong một thời gian ngắn nhất, khẩn trương nhất (song công tác tuyển lao động và tổ chức cũng phải mất hàng quý mới ổn định).
Đầu năm 1969, các hoạt động sản xuất của mỏ đã trở lại bình thường. Tuy vậy, do đất nước vẫn trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, lượng tiêu thụ than Na Dương vẫn cầm chừng, sản xuất chủ yếu theo kế hoạch trên giao và theo nhu cầu của Nhà máy xi măng Hải Phòng. Các năm 1969-1973, mỏ đều hoàn thành kế hoạch, được cấp trên công nhận, lượng than tiêu thụ bình quân từ 25 đến 30 ngàn tấn.
Cuối năm 1968, do bị thất bại nặng nề ở chiến trường miền Nam và thất bại liên tiếp trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, ngày 1-8-1968, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt đánh phá miền Bắc. Trong thời kỳ đánh phá, Mỹ đã hai lần ném bom vào khu vực mỏ; một lần 2 quả vào khu tập thể vận tải, làm 1 công nhân bị thương, một lần ném bom bi xuống trạm biến thế, nhưng không gây thương vong và thiệt hại. Số bom bi chưa nổ được công binh mỏ và tỉnh đội Lạng Sơn tháo gỡ được 123 quả.
Ngày 3-11-1968, Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Thế là sau 4 năm chiến đấu vô cùng anh dũng, quân và dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang. Đó là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân ta... Thắng lợi đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta... Đó là thắng lợi chung của quân và dân ta ở hai miền Nam, Bắc...". Người cũng chỉ rõ: "Đó mới chỉ là thắng lợi bước đầu", vì vậy "nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc".
Chỉ hơn 10 ngày sau, ngày 15-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp gỡ với 30 công nhân, cán bộ tiêu biểu, đại diện cho hàng vạn công nhân, cán bộ ngành Than tại Phủ chủ tịch. Trong buổi tiếp, Người nói:
"Bác rất hoan nghênh các cô, các chú công nhân và cán bộ ngành Than, đã cử đại biểu đến báo cáo những cố gắng và kết quả bước đầu của ngành Than với Bác và các đồng chí trung ương có mặt tại đây.
Người ta thường nói, than là "vàng đen". Nó rất cần cho công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, vận tải, quốc phòng và đời sống của nhân dân. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội càng rất cần nhiều than. Ở nước ta có nhiều mỏ than, công nhân ta cần cù và anh dũng, lại có các nước anh em giúp ta về thiết bị kỹ thuật, cho nên ta có thể sản xuất than nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Nhưng tình hình sản xuất than hiện nay lại không như thế.
Năm 1965 đã sản xuất được ngót 4 triệu 30 vạn tấn, nhưng mấy năm gần đây thì sản lượng giảm sút. Sự giảm sút đó, một phần do chiến tranh. Nhưng nguyên nhân chính là do quản lý kém và tổ chức kém. Chỉ lấy một ví dụ: Toàn ngành mỏ có hàng vạn người, nhưng số người làm việc hành chính, quản trị, gián tiếp sản xuất quá nhiều.
Cần giảm bớt số người gián tiếp đó để thêm vào số người trực tiếp sản xuất.
Trong hội nghị của ngành Than ngày 10 tháng 10 năm 1968, đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhiều đồng chí khác, cả cán bộ và công nhân đã phát biểu một cách dân chủ, thẳng thắn và góp nhiều đề nghị rất tốt nhằm đẩy mạnh việc sản xuất than.
Hôm nay, Bác chỉ nói thêm mấy điểm, để nhắc nhở các cô, các chú cố gắng thi đua làm cho tốt hơn nữa:
1. Trong hội nghị của ngành Than, các đồng chí Bộ trưởng, giám đốc, cán bộ và công nhân đã phê bình, thật thà nêu rõ những sai lầm, thiếu sót trong ngành và mạnh dạn đề ra cách sửa chữa. Đó là một điều tốt. Vì vậy hội nghị xong, trong cán bộ và công nhân đã có một không khí phấn khởi, tin tưởng, mức sản xuất than đã bắt đầu tăng lên so với trước. Theo báo cáo ngay khi hội nghị, chỉ có mỏ Cọc Sáu đã hoàn thành kế hoạch cả năm trước thời hạn 4 tháng. Sau hội nghị, mỏ Hà Tu, mỏ Đèo Nai, mỏ Thống Nhất... đều đã cố gắng hoàn thành kế hoạch cả năm và đã nhận sản xuất thêm mấy vạn tấn than ngoài kế hoạch. Xí nghiệp Ô tô Hòn Gai mới đây cũng hoàn thành kế hoạch trước thời hạn. Thế là khi tư tưởng đã chuyển biến thì việc làm cũng tiến bộ, mức sản xuất đươc nâng cao.Nhưng đó mới chỉ là chuyển biến bước đầu. Các cô, các chú phải luôn luôn cố gắng hơn nữa để mức sản xuất than tăng nhanh và vững chắc.
2. Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc. Toàn thể công nhân và cán bộ phải có nhiệt tình cách mạng và tinh thần yêu nước rất cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng rất vững, phải đoàn kết nhất trí, phải có đầy đủ ý thức làm chủ nước nhà, làm chủ xí nghiệp, vượt mọi khó khăn nhằm vào một mục đích chung là sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc. Như thế mới thật xứng đáng với đồng bào và chiến sỹ miền Nam đang anh dũng chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai bán nước.
3. Công nhân phải tham gia quản lý. Cán bộ các cấp cần tham gia lao động. Có như vậy, cán bộ và công nhân mới thật sự đoàn kết và giải quyết đợc nhanh chóng các vấn đề trong sản xuất, đẩy mạnh được sản xuất. Kỷ luật lao động phải ngưhiêm. Quản lý lao động, quản lý vật tư phải chặt chẽ; phải đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước. Kiên quyết chống nạn quan liêu, chống tham ô, lãng phí.
Phải chăm lo đời sống vật chất và văn hóa của công nhân.
4. Để kết thúc, Bác nhắc thêm là phải chú ý tổ chức tốt việc phòng không và luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.
Đảng viên, đoàn viên và thanh niên nói chung phải gương mẫu trong sản xuất, trong học tập, trong việc giữ vững kỷ luật và cải thiện đời sống của công nhân.
Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành Than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp.
Cuối cùng, Bác nhờ các cô, các chú chuyển đến tất cả anh chị em công nhân và cán bộ ở các mỏ, đến các gia đình và đến toàn thể đồng bào và chiến sỹ tỉnh Quảng Ninh lời thăm hỏi của Bác và Trung ương".
Bài nói của Người hôm ấy đã trở thành kim chỉ nam cho hành động của những người thợ mỏ ngành Than - Khoáng sản Việt Nam.
Cùng với việc tổ chức sản xuất và sẵn sàng chiến đấu, nhiều phong trào thi đua đã được phát động trong toàn mỏ, như phong trào "Than không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Tấn than vì miền Nam thắng Mỹ", "Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang"... Từ phong trào đó, nhiều tấm gương điển hình xuất sắc xuất hiện. Công nhân máy bơm Lý Viết Uông không quản hiểm nguy, lặn xuống hố nước xít sâu 2,5-3m để mò giỏ bơm. Đoàn thanh niên xung phong đảm nhận công trình đào ao. Nhiều tổ máy, đầu xe đăng ký làm thêm giờ, làm tăng ca...
Sau khi giặc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, mỏ tiếp tục xây dựng mới nhà ăn tập thể khu 10 gian (quả đồi đối diện với văn phòng bây giờ). Xây khu 7, khu 10, xây sân khấu ngoài trời, xây nhà trẻ mẫu giáo ở đập Nà Cáy, trường cấp I & II gần sân bóng đá.
Về y tế, được sự giúp đỡ của Ty Y tế Lạng Sơn, mỏ thành lập Trạm xá từ năm 1963, lúc đầu có 2 y sỹ và một số y tá. Đến năm 1966, Trạm xá mỏ được tăng cường 1 bác sỹ. Năm 1969, mỏ tiếp nhận khu nhà lâm nghiệp (khu trạm xá hiện nay), từ đó mở rộng trạm xá cho đến nay. Thời điểm cao nhất Trạm xá mỏ lần lượt có tới 4 bác sỹ về công tác và khoảng một chục y sỹ, y tá. Đến cuối thập niên 80, mỏ đã xây dựng được một kíp mổ, có thể mổ được những bệnh thông thường.
Từ 1960 đến 1970, mỏ có 9 nhà ăn tập thể, bố trí theo những công trường, phân xưởng, mỗi nhà ăn khoảng từ 100 đến 300 người ăn. Sau năm 1968, được hưởng chế độ độc hại, mỏ tổ chức bữa ăn giữa ca cho công nhân. Việc tổ chức nhà ăn các công trường, phân xưởng đã tạo điều kiện cho ngành đời sống phát triển chăn nuôi. Mỗi bếp ăn có một chuồng lợn, nuôi khoảng 10-15 con, có con lợn nuôi lớn đến hơn tạ. Ngoài chăn nuôi, ngành đời sống còn làm đậu phụ, làm bánh mỳ phục vụ cho bữa ăn chính và ăn ca. Sau năm 1970, nhà ăn tập thể giảm dần, nhờngư chỗ cho gia đình công nhân phát triển. Ngành đời sống cũng tổ chức chăn nuôi bò thịt và nuôi cá, nhưng không thành công, dù đã có rất nhiều cố gắng trong cơ chế quản lý tập trung.
Trong các ngày 7 và 8-5-1969, Đại hội Đảng bộ mỏ khóa VI được tổ chức trọng thể, có 150 đảng viên ưu tú thay mặt cho 254 đảng viên toàn mỏ tham dự. Đại hội bầu BCH gồm 11 đồng chí, đồng chí Hoàng Liên Đoàn tiếp tục tái cử giữ chức Bí thư Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện nghị quyết đại hội kỳ trước và đề ra phương hướng, nhiệm vụ 3 năm 1969-1971. (Tiếp đó, Đại hội Đảng bộ mỏ khóa VII diễn ra trong 2 ngày 8 và 9-3-1971, 150 đảng viên ưu tú/283 đảng viên tham dự; BCH có 11 người, đồng chí Hoàng Liên Đoàn tiếp tục giữ chức Bí thư Đến tháng 10, đồng chí kiêm thêm chức Giám đốc mỏ thay đồng chí Nguyễn Thượng Vũ đi nhận công tác mới. Đến tháng 7-1972, đồng chí Huỳnh Văn Ân (phó giám đốc kỹ thuật) được đề bạt giữ chức Giám đốc. Tại Đại hội giữa nhiệm kỳ (tháng 6-1972), đồng chí Trần Lê Mạo được bầu vào BCH và cử giữ chức Bí thư Đảng ủy mỏ, thay đồng chí Hoàng Liên Đoàn về nghỉ chế độ).
Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của Đảng và nhân dân ta, sau một thời gian lâm bệnh đã từ trần. Trước tổn thất vô cùng lớn lao, trong niềm tiếc thương vô hạn, ngày 9-9, Đảng bộ và công nhân, cán bộ mỏ đã cử đoàn đại biểu đi truy điệu Bác, do Tỉnh ủy Lạng Sơn tổ chức, tại sân vận động Đông Kinh, nơi mà cách đó 9 năm trong dịp về thăm Lạng Sơn Người đã ân cần nói chuyện với nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Biến đau thương thành hành động cách mạng, Đảng ủy mỏ đã phát động phong trào học tập và làm theo di chúc của Người.
Ngay từ cuối năm 1968, việc tuyển dụng công nhân kỹ thuật về mỏ công tác rất khó khăn, kể cả cán bộ được cấp trên điều động về, số người trụ lại rất ít, còn đại đa số chỉ ở lại một vài năm, sau đó tìm cách xin đi, thậm chí bỏ việc. Lường trước những khó khăn đó, để kịp thời bổ sung lực lượng này cho các công trường, phân xưởng, mỏ chính thức thành lập Trường công nhân kỹ thuật, đặt tại Pò Lọi, lấy khu làm việc và nhà ở của công nhân trước đây làm cơ sở.
Ngay từ những năm đầu thành lập, mỏ đã có chủ trương đào tạo công nhân kỹ thuật. Các khóa I, II, III đào tạo thợ vận hành theo hình thức kèm cặp, phân tán trong điều kiện chiến tranh đánh phá của địch, các lớp học do Phòng tổ chức đào tạo của mỏ phụ trách, giáo viên là những cán bộ kỹ thuật giảng dạy kiêm nhiệm. Giáo trình, giáo án do giáo viên chuẩn bị theo nội dung của Bộ. Từ khóa IV mới chính thức đào tạo tại Trường. Trường được Công ty than Việt Bắc công nhận là trường công nhân kỹ thuật bên cạnh xí nghiệp. Về mặt quản lý, Trường vẫn trực thuộc Phòng tổ chức của mỏ. Từ khóa V trở đi (1972), Trường là một đơn vị thuộc mỏ, có thể trực tiếp quan hệ với các phòng ban trong mỏ để giải quyết công việc. Về mặt nghiệp vụ, Phòng tổ chức vẫn theo dõi, phối hợp để thực hiện việc đào tạo kèm cặp và nâng bậc cho công nhân kỹ thuật.
Đối tượng tuyển dụng là con em cán bộ, công nhân viên của mỏ và con em nông dân mà mỏ đã lấy ruộng đất của họ để mở khai trường.
Kinh phí đào tạo từ lúc học sinh nhập trường đến khi tốt nghiệp ra trường do mỏ đài thọ. Thời gian đào tạo từ 2 - 2,5 năm, tốt nghiệp ra trường được hưởng bậc 3/7.
Trong 23 năm, trường đã đào tạo được 26 khóa, mỗi khóa từ 40 đến 70 học sinh. Riêng công nhân kỹ thuật xây dựng, trường không đủ điều kiện đào tạo nên mỏ đã tuyển và gửi học sinh ra trường công nhân kỹ thuật xây dựng Lạng Sơn nhờ họ đào tạo giúp.
Kết quả sau 26 khóa, trường đã cung cấp đủ số lượng công nhân kỹ thuật các ngành nghề cho các công trường, phân xưởng, chấm dứt tình trạng có máy mà thiếu thợ vận hành như những năm trước. Những năm sau này, Trường chỉ làm nhiệm vụ tuyển sinh theo kế hoạch của mỏ, sau đó đưa học sinh xuống trường công nhân kỹ thuật của Công ty than Nội Địa đào tạo. Ngoài việc tuyển sinh đào tạo, Trường còn làm nhiệm vụ kèm cặp nâng bậc. Đến năm 1992, Trường giải thể.
Hơn 20 năm tồn tại, Trường công nhân kỹ thuật mỏ Na Dương đã đào tạo được hơn 1000 công nhân kỹ thuật lành nghề, đáp ứng yêu cầu sản xuất của mỏ.  Đến nay số công nhân kỹ thuật của Trường đào tạo vẫn không ngừng phát huy năng lực của mình trong sản xuất, xứng đáng là lớp thợ đầu đàn, đáng tin cậy.
Sản lượng than của mỏ từ năm 1965 đến 1972 không ổn định, do giặc Mỹ luôn đánh  phá Cảng Hải Phòng và Nhà máy xi măng Hải Phòng. Mục tiêu của Bộ đề ra cho mỏ: đảm bảo được than cho Nhà máy xi măng là được công nhận hoàn thành kế hoạch. Từ năm 1965 đến 1972, mỏ luôn đáp ứng được mục tiêu đó, luôn làm vượt kế hoạch từ 102% đến 116%.
Các năm 1965 - 1966, Bộ Công nghiệp nặng công nhận.
Các năm 1967 - 1968 - 1969, Tổng giám đốc Tổng Công ty mỏ công nhận.
Các năm 1970 - 1971, Giám đốc Công ty than Việt Bắc công nhận.
Tháng 4 năm 1972, máy bay giặc Mỹ tiếp tục bắn phá ác liệt thành phố Hải Phòng. B52 rải thảm khu Thượng Lý, và Nhà máy xi măng Hải Phòng bị thiệt hại nặng. Một lần nữa mỏ Na Dương buộc phải thu hẹp, có nguy cơ ngừng sản xuất.
Cũng khi đó, Cảng Hải Phòng bị bom mìn và thủy lôi của giặc Mỹ phong tỏa. Vũ khí, khí tài, quân trang quân dụng, hậu cần phục vụ cho chiến trường hoàn toàn vận chuyển bằng đường bộ và đường sắt.
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới phía bắc, trong lúc này, đã giữ tầm quan trọng đặc biệt, là nơi tiếp nhận vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh của các nước anh em và bè bạn quốc tế giúp đỡ nhân dân ta đánh Mỹ. Đường sắt Đồng Đăng - Lạng Sơn và đường bộ Bản Chắt - Đình Lập được mệnh danh là "cảng nổi" tiếp nhận hậu cần từ phía các nước bạn cho chiến trường.
Các ga đường sắt, đường quốc lộ 1A, 4B trên địa bàn Lạng Sơn trở thành các trọng điểm bắn phá của giặc Mỹ.
Đứng trước tình hình đó, công nhân, cán bộ và lực lượng tự vệ của mỏ vẫn bình tĩnh, tin tưởng vào đường lối của Đảng, một mặt tổ chức tốt sản xuất, đảm bảo than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, một mặt tổ chức tốt lực lượng chiến đấu tại chỗ. Khi được giao nhiệm vụ tổ chức làm đường, bốc dỡ, cất giấu và bảo vệ hàng hóa, đơn vị nhanh chóng thành lập một lực lượng gồm 300 người, chia thành 3 đơn vị trực tiếp tham gia. Một đơn vị tham gia mở đoạn đường dài 28km từ Trung Quốc đi Bản Chắt về thị trấn Đình Lập và hàng chục ki lô mét đường tránh qua các địa hình phức tạp trong khi máy bay giặc Mỹ liên tục bắn phá. Một đơn vị tham gia bốc vác, cất giấu, giải tỏa hàng hóa vùng huyện Đình Lập. Hàng vạn tấn hàng hóa được bốc xếp nhanh chóng, tuyệt đối an toàn. Một đơn vị tỏa về các ga Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đồng Mỏ, cũng làm nhiệm vụ bốc dỡ, giải tỏa hàng hóa. Hàng hóa ở đây cũng được bốc xếp, giải tỏa an toàn, trong khi máy bay giặc thường xuyên quần đảo, đánh phá.
Suốt trong thời kỳ đó, mạch máu giao thông mỏ đảm nhận vẫn thông suốt, hàng vạn tấn hàng hóa có công của người thợ mỏ Na Dương đã được chuyển đi an toàn, tới tay các chiến sỹ ngoài mặt trận chiến đấu tiêu diệt quân thù, góp phần vào chiến thắng lịch sử của dân tộc.
Bên cạnh đó, bằng mọi cách, Nhà máy xi măng Hải Phòng không thể ngừng hoàn toàn, vì đất nước vẫn rất cần có xi măng để xây dựng. Do đó Than Na Dương tiếp tục được khai thác theo kế hoạch Bộ giao và tiếp tục hoàn thành xuất sắc kế hoạch các năm. Những năm này việc hoàn thành kế hoạch được Bộ Điện và Than công nhận. Để sản xuất đáp ứng cho nhu cầu xi măng, Bộ đã tăng thêm thiết bị và nguồn năng lượng cho mỏ. Cuối năm 1964 đầu 1965, mỏ được trang bị 4 trục tời điện loại 10kW/1 động cơ, lắp đặt ở công trường I và một số toa goòng tự lật chạy trên đường ray để vận chuyển than, đất đá xít từ lòng moong lên boong ke bên này suối Toòng Già và bãi thải trụ Hào 1. Năm 1965, mỏ được trang bị thêm 1 máy phát điện 135kVA.
Từ cụm máy phát 135kVA lắp ở đồi sau cầu xi măng (cầu hiện nay cắt suối nắn bây giờ, nay gọi là cầu nhiệt điện, xưa anh em thường gọi là cầu bà Tiếp) sau lắp thêm 2 cụm ở đồi bể nước - cụm máy phát 260kVA và 270kVA để cấp điện 3 pha chạy máy xúc E1251 (mỏ còn cải tiến máy xúc loại E1252 sang E1251 để chạy bằng điện), chạy máy khoan dập cáp.Tiếp đó, năm 1970-1971, Nhà máy điện Lạng Sơn cũng đã lắp xong 2 tổ máy, một tổ diezen, một tổ nhiệt điện, đồng thời kéo điện 35kV vào mỏ. Do đó điện cho sản xuất của mỏ ổn định hơn. Giai đoạn này mỏ được phép thanh lý dần những thiết bị lạc hậu. Sau năm 1970, tốc độ xuống sâu được thực hiện do điều kiện bốc xúc đã được cơ giới hóa. Xuống sâu, nước moong phải bơm nhiều, nước có nồng độ a xít lớn, bơm thường chỉ chịu được tối đa không quá 2 tháng, cánh bơm và vỏ bơm đều bị ăn mòn. (Sau năm 1965, được Bộ trang bị máy bơm chống a xít của Liên Xô, khoảng 10 chiếc, loại 8X12D, công suất 260m3/h, dùng rất tốt, chủng loại này hiện nay mỏ đang dùng).
Như vậy, vừa chiến đấu anh dũng và sẵn sàng chiến đấu, công nhân, cán bộ Than Na Dương, với khẩu hiệu "Vì miền Nam ruột thịt", "Tất cả cho tiền tuyến", "Mỗi người làm việc bằng hai", "Tấn than vì miền Nam đánh Mỹ", đã tổ chức sản xuất tốt 3 ca liên tục, cung cấp đầy đủ than cho xi măng, đồng thời vẫn tổ chức tốt đời sống trong thời chiến. Lúc này mỏ đã tổ chức được mạng lưới truyền thanh đến từng gia đình, giúp mọi người phấn khởi theo dõi tin thắng Mỹ trên chiến trường.
Do thất bại trên tất cả các chiến trường, ngày 15-1-1973, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom vĩnh viễn miền Bắc và hơn mười ngày sau, ngày 27-1, chúng phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari, thủ đô nước Pháp, để rồi sau đó ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Từ đây miền Bắc bước vào thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiếp tục chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Đầu năm 1973, BCH Trung ương Đảng gửi tới giai cấp công nhân và lao động cả nước lời kêu gọi: "Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mở ra cho miền Bắc nước ta những điều kiện chưa  từng thấy để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi người chúng ta biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu thành quyết tâm vượt khó khăn trong lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới, con người mới".
Hưởng ứng lời kêu gọi của BCH Trung ương Đảng, Thông báo số 4 của Bộ chính trị và Chỉ thị 50 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ của ngành Than: "Khẩn trương phục hồi sản xuất, đời sống và nề nếp quản lý", mỏ than Na Dương đã tổ chức sản xuất phù hợp với nhiệm vụ cung cấp than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng bắt đầu nâng công suất.
Trong hai ngày 8,9-11-1973, Đại hội Đảng bộ mỏ khóa VIII được triệu tập. Đại hội đã bầu BCH gồm 9 đồng chí, đồng chí Trần Lê Mạo được bầu làm Bí thư Đại hội tiến hành kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ VII và nghị quyết của Tỉnh ủy Lạng Sơn, ra lời kêu gọi mỗi đảng viên, công nhân, cán bộ hãy nêu cao tinh thần thi đua lao động sản xuất, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Năm 1973, phục hồi trạm bơm ở Hào 2, lắp đặt loại bơm chống axit.
Năm 1974, dừng khai thác ở Hào 1, tập trung khai thác ở Hào 2; thành lập Phòng hóa nghiệm, sau đổi tên thành Phòng KCS; xây dựng các tổ gia công cho Công trường khai thác và Phân xưởng vận tải, trang bị máy tiện UE40, khoan cần, lò rèn cho các tổ; nâng cấp và trang bị thêm máy móc cho Phân xưởng cơ điện thực hiện nhiệm vụ bảo dưỡng định kỳ xe máy trong khi xe máy ở vào thời kỳ dơ dão cần sửa chữa lớn; thanh lý và điều chuyển dần các loại máy móc đã cũ, hết khấu hao hoặc sản xuất không hiệu quả.
Tháng 5-1974, mỏ nhận 2 máy xúc E2503 (số 7 và 8), khẩn trương vận chuyển từ mỏ Cọc Sáu về, tổ chức lắp đặt trong thời gian ngắn nhất để đưa máy vào sản xuất.
Năm 1975, thành lập Ban kiến thiết cải tạo mỏ.
Đại hội Đảng bộ mỏ khóa IX diễn ra trong hai ngày 4 và 5-4-1975. BCH được bầu gồm 13 đồng chí, đồng chí Trần Lê Mạo tái cử chức Bí thư kiêm Giám đốc mỏ (từ tháng 2-1975 đến tháng 4-1976) thay đồng chí Huỳnh Văn Ân đi nhận công tác mới, tháng 5-1976 đồng chí Triệu Tùng được đề bạt Giám đốc mỏ than Na Dương.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, các tổ chức công đoàn, phụ nữ, thanh niên hoạt động hiệu quả. Công đoàn thường xuyên bám sát các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, Ban giám đốc, tham mưu đắc lực về công tác quản lý, động viên công đoàn viên và lực lượng tự vệ sản xuất tốt và sẵn sàng chiến đấu; làm tốt công tác đả thông tư tưởng những công nhân chuyển đi đơn vị mới, những chiến sỹ tình nguyện nhập ngũ; thông qua hội nghị công nhân viên chức để phát huy quyền làm chủ của người lao động; giáo dục công nhân viên chức trở lại nếp sống thời bình, đảm bảo chế độ ngày công, giờ công có sản phẩm, thực hành tiết kiệm và bảo vệ của công. Ban nữ công đi sâu đi sát chị em có chồng đi chiến đấu, tạo mọi điều kiện để chị em bớt một phần khó khăn, đề xuất với lãnh đạo có chế độ phù hợp với những gia đình vợ bộ đội đang có con nhỏ. Đoàn thanh niên đã phát huy đầy đủ tính tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vực công tác, sản xuất cũng như chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; động viên đoàn viên, thanh niên tình nguyện xung phong nhập ngũ; tổ chức, xây dựng các đầu xe, tổ máy do thanh niên quản lý v.v.
Do công tác tổ chức và chỉ đạo sản xuất tốt, cộng với phong trào thi đua lao động sản xuất diễn ra sôi nổi, mỏ than Na Dương đã luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ các năm, được cấp trên công nhận và khen thưởng. Với thành tích trong lao động sản xuất, chiến đấu, trong giai đoạn này mỏ đã được Chính phủ tặng Bằng khen 3 năm liên tục (1966,1967,1968); 2 năm (1970,1971) được Chính phủ thưởng Cờ luân lưu thi đua khá nhất; 8 Bằng khen của Bộ quốc phòng về công tác tuyển quân liên tục các năm từ 1965 đến 1972; 2 Bằng khen của Bộ công an (1971, 1972) về công tác bảo vệ an ninh tổ quốc; 20 Bằng khen của UBND tỉnh Lạng Sơn về công tác tuyển quân và thành tích trong sản xuất.
( Hết phần thứ 3)

Nguyễn Quang Tình sưu tầm và biên tập theo tài liệu
của Công ty than Na Dương, Tổng Công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc.

 



Ảnh: Bóc đất đá mở rộng khai trường ở Công ty than Na Dương ( ảnh của Bùi Quang Tuynh).












 

Số lượt đọc: 4246 - Cập nhật lần cuối: 09:26 | 03/03/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ