CÔNG TY THAN NA DƯƠNG – VVMI , 55 NĂM XÂY DỰNG, SẢN XUẤT, CHIẾN ĐẤU VÀ LIÊN TỤC PHÁT TRIỂN

       

Lời Người biên tập : Bạn đọc kính mến ! Tháng 3 năm nay, Công ty than Na Dương – VVMI đã bước vào tuổi 55. Hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu, sản xuất và liên tục phát triển, Công ty đã trở thành một đơn vị khai thác than lớn nằm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, mỏ than duy nhất cung cấp than cho Nhà máy điện Na Dương góp phần thắp sáng vùng biên cương phía Bắc Tổ quốc. Qua hơn 5 thập kỷ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, cán bộ công nhân mỏ dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đoàn kết đi lên và liên tục đổi mới cùng đất nước. Kết quả đã đạt được nhiều thành tích, được Nhà nước vinh danh “ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, được Đảng, Chính phủ và các Bộ, Ngành trung ương , Quân khu I và tỉnh Lạng Sơn tặng thưởng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao  quý. Để thiết thực chào mừng ngày Truyền thông vẻ vang, ngày đánh dấu sự ra đời của Công ty ( 21/3/1959 -21/3/2014), Ban Biên tập giới thiệu bài viết chuyên đề của Nhà báo Nguyễn Quang Tình về Công ty.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Than Na Dương – VVMI là Công ty con trực thuộc Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc – Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (gọi tắt là Công ty Than Na Dương -VVMI) tiền thân là Mỏ than Na Dương, được thành lập theo Quyết định số 104/BCN /KH4  ngày 10 tháng 01 năm 1959 và chính thức hoạt động từ ngày 21 tháng 3 năm 1959. Trải qua quá trình xây dựng, sản xuất, chiến đấu và phát triển, đến nay Công ty than Na Dương vừa tròn 55 năm (1959 - 2014).
Suốt chặng đường 55 năm, công nhân, cán bộ Công ty than Na Dương đã trải qua biết bao nhiêu gian nan, thử thách, cùng với sự biến cố thăng trầm của lịch sử,. Các thế hệ thợ mỏ đã luôn luôn đoàn kết, vững vàng kiên định trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong sản xuất và xây dựng, viết nên những trang sử vẻ vang trên đất mỏ Na Dương với những chiến công xuất sắc trong lao động sản xuất và trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên giới thiêng liêng phía Bắc. Góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển ngành Than - Khoáng sản Việt Nam.
Đến với Công ty hôm nay để thấy diện mạo vùng đất mỏ Dương đã hoàn toàn khác xưa: Khu trụ sở văn phòng khang trang trong một khuôn viên văn hóa liên hoàn, tiện nghi, được xây dựng cùng phát triển với Công trường khai thác than ngày đêm rền vang tiếng máy, với các thiết bị xe máy lớn, hiện đại, đưa công suất khai thác của mỏ lên gần một triệu tấn một năm. Bên cạnh đó là Nhà máy nhiệt điện Na Dương ngày đêm sản xuất, mang lại nguồn ánh sáng cho đất nước từ chính nguồn than Na Dương, làm sống lại và phát triển cả một vùng đất mỏ nghèo khó xưa kia trên vùng biên cương phía bắc Tổ quốc.
Các thế hệ công nhân, cán bộ Công ty than Na Dương luôn tự hào về truyền thống vẻ vang của mình, tự hào về những danh hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước đã trao tặng trong 55 năm qua và quyết tâm phát triển vùng mỏ ngày một phồn vinh, văn minh, hiện đại để xứng đáng với truyền thống của một Đơn vị anh hùng trong chiến đấu và luôn luôn đổi mới trong sản xuất và xây dựng.
Hướng về ngày kỷ niệm truyền thống vẻ vang qua 55 năm thành lập, để ghi nhớ lại quá trình xây dựng và trưởng thành tạo nên lịch sử vẻ vang của Công ty, của các thế hệ cha anh đi trước, đã hy sinh xương máu, công sức và trí tuệ tạo dựng nên một khu mỏ liên hợp Than – Điện, một điểm sáng của Tổ quốc trên vùng đất thuộc chiến khu Việt Bắc năm xưa. Chúng tôi biên tập lại các tài liệu thành dạng các bài viết về các giai đoạn hình thành và phát triển của Công ty để bạn đọc cùng tham khảo.

Ảnh: Trụ sở văn phòng Công ty than Na Dương

                                   PHẦN THỨ NHẤT
                              SỰ HÌNH THÀNH, VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
       QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG - PHÁT TRIỂN CỦA MỎ NA DƯƠNG
              VÀ THỜI KỲ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG ( 1959-1985)


 Trong lòng đất của Việt Nam ta chứa đựng nhiều tài nguyên khoáng sản quý báu như: than, đồng, chì, thiếc, sắt, kẽm, vàng, bạc, đá quý, các nguồn nước khoáng... Ngày nay, với kỹ thuật thăm dò hiện đại, ngành Địa chất của ta còn phát hiện ra nhiều loại quặng quý hiếm, có giá trị cao. Trong những nguồn tài nguyên đó, than là một trong những nguồn năng lượng giá trị và có trữ lượng lớn nhất.
 Theo tài liệu điều tra của người Pháp, than ở nước ta phân bố trên lãnh thổ từ Cao Bằng đến Quảng Nam, thành các bể than lớn nhỏ, riêng biệt của nhiều loại than: than gầy, than non, than mỡ... Ngoài các bể than còn có các trầm tích chứa than nằm rải rác trên nhiều vùng lãnh thổ. Căn cứ kết quả thăm dò, ta có những bể than sau đây được khai thác trong thời kỳ cận đại:
Bể than Cao Bằng trên sông Bằng.
Bể than Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn.
Bể than Phấn Mễ tỉnh Thái Nguyên.
Bể than Yên Bái tỉnh Yên Bái.
Bể than Vạn Yên, bể than Chợ Bờ tỉnh Hòa Bình.
Bể than Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
Bể than Hạ Long - Đông Triều tỉnh Quảng Ninh.
Bể than Nông Sơn tỉnh Quảng Nam.
Mỏ than Na Dương nằm trong Bể than Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn.
Mỏ than Na Dương nằm trong giới hạn tọa độ (hệ tọa độ Nhà nước năm 1972): X = 2 400 660,43 - 2 403 66,32; Y = 392 455,34 - 396 955,15. Tọa độ địa lý: 21040' đến 21050' Vĩ độ Bắc; 106055' đến 107002' Kinh độ Đông.
Khu mỏ nằm bên trái quốc lộ 4B từ Lạng Sơn đi Tiên Yên, cách thành phố Lạng Sơn 33km, cách biên giới Việt - Trung 8km (đường chim bay); trên địa bàn huyện biên giới Lộc Bình, cách thị trấn huyện lỵ Lộc Bình 9 km về phía đông nam; phía đông giáp các xã Sàn Viên, Lợi Bác, phía tây giáp xã Đông Quan, thị trấn Na Dương, phía nam giáp xã Lợi Bác, thị trấn Na Dương, giáp các xã Đông Quan, Sàn Viên. Từ mỏ có đường sắt chở than, chở đá nối với ga Mai Pha thuộc tuyến đường sắt Lạng Sơn - Hà Nội.
Địa hình khu mỏ là các dải đồi bao quanh thung lũng chứa than. Độ cao tuyệt đối của các đỉnh đồi từ 300 - 330m, phần địa hình thấp của thung lũng có độ cao từ 200 - 300m. Các đồi núi này được trồng bạch đàn, thông, không có rừng nguyên sinh. Đi xa về phía bắc có các dãy núi có độ cao từ 500 - 600m, có hình vòng cung, trải dài theo hướng đông - tây.
Suối Toòng Già là suối chính trong vùng, bắt nguồn từ vùng núi phía đông khu mỏ, chảy theo hướng tây bắc, dọc qua các vỉa than, đổ ra sông Kỳ Cùng. Trong khu mỏ còn có các suối nhánh Khòn Chè và Khuổi Phục.
Mỏ Na Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hình thành 2 mùa rõ rệt trong năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 878 - 1544mm. Trong mùa mưa, hướng gió chủ yếu là gió đông nam. Mùa này cũng thường có dông bão, kèm theo mưa lớn kéo dài, có lần tới 2 - 3 ngày. Mùa mưa nhiệt độ không khí cao, thường từ 33 - 350C, có những ngày lên tới 38 - 390C, nhiệt độ trung bình khoảng 27 - 280C. Ngược lại, mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhiệt độ thường chỉ từ 10 -140C; có ngày nhiệt độ xuống rất thấp 1- 20C, thậm chí dưới 00C. Lượng mưa trong mùa khô không đáng kể.
Đất Na Dương mưa thì lầy, gió thì bụi. Đất đá trong khu mỏ bao gồm trầm tích hệ Trias Thống Thượng trầm tích chứa than Neogen và lớp phủ Đệ Tứ.
Trầm tích chứa than Neogen nằm không chỉnh hợp trên các trầm tích cổ hơn và được chia thành 3 tầng: tầng chứa than dưới, tầng chứa than trên và tầng trên than.
Tầng chứa than dưới phân bổ ở phía tây, nam và đông khu mỏ. Đặc trưng của tầng này từ dưới lên là đá chuyển dần từ hạt thô sang hạt mịn, kết thúc là sét kết, sét than và các vỉa than. Chiều dày trung bình của tầng khoảng 125m.
Tầng chứa than trên phân bổ ở phía đông - đông bắc, kéo dài sang phía tây nam. Thành phần chủ yếu của tầng này là lớp bột kết có xen kẽ các vỉa than, sét than. Chiều dày trung bình của tầng khoảng 330m.
Về đặc điểm kiến tạo, nói như người dân nơi đây: làm nhà cấp 4 phải làm móng nhà cấp 2 thì tường mới đỡ bị xé toạc. Kiến tạo khu mỏ có cấu tạo chung là một nếp lõm lòng chảo không đối xứng. Trục nếp lõm có phương gần đông - tây; độ dốc các cánh thường từ 180 - 240, ở phía tây các lớp đá dốc hơn, từ 280 - 320. Độ dốc đá giảm dần về phía trung tâm lòng chảo, góc dốc chỉ còn khoảng 80 - 100. Các vỉa than được tạo thành ở phía nam của tầng chứa than. Các vỉa than thường có dạng đơn tà, chúng hay bị uốn cong theo hướng dốc, đôi chỗ bị uốn tạo thành các nếp uốn nhỏ. Đi dần vào trung tâm, các vỉa than giảm dần chiều dày và vát nhọn trước khi đến trung tâm lòng chảo.
Trong địa tầng chứa than, mỏ Na Dương có 9 vỉa than, nhưng tập trung chủ yếu ở vỉa 4 và vỉa 9. Do vậy hai vỉa này đạt giá trị khai thác công nghiệp lớn nhất.
Vỉa 4 phân bố rộng, có chiều dày lớn nhất của mỏ. Theo phương, vỉa phân bố từ tuyến phía tây đến tuyến phía đông theo hình cánh cung với chiều dài trên 2000m. Diện tích phân bố của vỉa khoảng 6,5km2. Vỉa có dạng một đơn tà cắm về phía bắc với góc thay đổi từ 180 - 200. Xuống sâu phía trung tâm vỉa thoải hơn, góc dốc từ 150 - 250. Vỉa có chiều dày lớn nhất ở trung tâm, từ 12 - 23,66m; đi về hai phía tây và đông, chiều dày vỉa giảm dần và bị vát nhọn. Theo hướng dốc, càng xuống sâu, vỉa càng mỏng và vát nhọn ở mức -250m. Vỉa 4 thuộc loại có cấu tạo phức tạp, gồm nhiều lớp than và đá xen kẽ nhau. Đá kẹp trong vỉa chủ yếu là sét kết, sét than, đôi khi là bột kết.
Vỉa 9 nằm ở phía bắc mỏ, chạy theo hướng tây nam - đông bắc với chiều dài khoảng 5km. Phần vỉa có giá trị ở phía đông với chiều dài khoảng 2,5km. Vỉa có dạng một đơn tà cắm đông bắc với góc dốc 120 - 250; có chiều dày vỉa nhỏ nhất 0,29m, lớn nhất 5,81m, trung bình 2,68m. Vỉa có chiều ổn định đi về phía đông và tây, giảm dần và vát nhọn ở mức -150m. Vỉa thuộc loại có cấu tạo phức tạp, gồm các lớp than và đá kẹp xen kẽ nhau. Đá kẹp là sét kết và sét than.Trong địa tầng chứa than của mỏ còn 7 vỉa than khác, các vỉa này phân bố rải rác trong một diện tích nhỏ. Tổng trữ lượng của mỏ khoảng gần 99 triệu tấn (theo báo cáo địa chất năm 2005).
Đặc tính của than Na Dương là loại than nâu chuyển tiếp than ngọn lửa dài. Vì vậy có thể gọi than Na Dương là than nâu hoặc than ngọn lửa dài. Than Na Dương là than đặc chủng, ít thấy ở việt Nam, với những đặc tính kỹ thuật: có hàm lượng lưu huỳnh cao, dễ phong hóa, dễ bốc cháy khi đổ đống lớn và gặp mưa nhỏ khí suynphua phát ra gây độc hại và ô nhiễm môi trường. Than Na Dương có hàm lượng tro cao, cấp hạt càng nhỏ độ tro càng cao. Tỷ lệ cám trong than nguyên khai tương đối lớn. Than và đất đá ở dạng kết hạch rất chặt chẽ, thuộc loại than rất khó tuyển. Với những đặc tính như vậy, Than Na Dương chủ yếu dùng cho công nghệ xi măng lò quay phương pháp ướt và nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, biến nước ta thành thuộc địa của chúng. Một công cuộc khai thác thuộc địa, vơ vét tài nguyên của chúng bắt đầu.Việt Nam là nước giàu tài nguyên, trong đó có tài nguyên than, được khai thác từ rất sớm, khoảng năm 1840, dưới triều vua Minh Mạng nhà Nguyễn.
Năm 1888, Thực dân Pháp ép triều đình nhà Nguyễn bán mỏ Đông Triều và một số mỏ than khác cho chúng. Ngày 24 tháng 5 năm 1888, một công ty khai thác than của chúng ra đời: Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (SFCT), một công ty lớn, mạnh nhất, cũng là công ty ra đời sớm nhất của các công ty tư bản Pháp ở thuộc địa. Bởi ngay từ khi ra đời, công ty này đã có tới 3 ngàn người vào làm việc. Họ làm công việc khai thác than và đương nhiên họ trở thành một lực lượng, một giai cấp mới: giai cấp công nhân. Ngày nay, người ta nói, công cuộc khai thác than là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam là vậy. Đội ngũ công nhân Việt Nam chủ yếu tập trung ở Quảng Ninh, mà trước hết ở Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ. Số lượng không ngừng bổ sung, đến cuối thế kỷ 19 đã có tới gần 10 vạn người. Một lượng lớn tài nguyên của Việt Nam đã bị thực dân Pháp vơ vét đưa về làm giàu cho chính quốc.
Thực hiện mục đích khai thác vơ vét tài nguyên và tăng cường khả năng quân sự, tại Lạng Sơn bọn chúng tiến hành tổ chức lại bộ máy cai trị, lập các đồn bốt, các phân khu quân sự, như Đồng Đăng, Thất Khê, Na Sầm, Lộc Bình, Na Dương v.v.
Năm 1894, thực dân Pháp bắt phu mở đường quốc lộ số 4B thông từ Móng Cái, qua Lạng Sơn, đồng thời ráo riết vơ vét tài nguyên, đẩy mạnh việc tìm kiếm, thăm dò và tiến tới khai thác các mỏ khoáng sản tại đây. Tại Lạng Sơn, chúng khai thác phốt phát ở Hữu Lũng và khai thác than tại Lộc Bình. Than khai thác tại Lộc Bình vào khoảng từ năm 1919 đến năm 1921, có quy mô nhỏ, sản lượng khai thác không nhiều, điều kiện khai thác thô sơ. Công nhân khai thác chủ yếu bắt phu từ các bản làng lân cận. Công cụ chuyên chở bằng xe ngựa.
Giai đoạn khai thác than ở Lộc Bình từ 1919 đến 1921 của thực dân Pháp có thể coi là lần khai thác thứ nhất mỏ than Na Dương ngày nay.
Năm 1939, Công ty điện mỏ Đông Dương (CEMI) cử tên quan Retip lên Lạng Sơn. Tại đây, Retip tiến hành mở mỏ khai thác phốt phát ở Vĩnh Thịnh, xây nhà cho thuê ở thị xã Lạng Sơn, đồng thời y đứng ra kêu gọi các nhà tư sản Hoa Kiều và Việt Nam ở Lạng Sơn góp cổ phần khai thác lại than ở Na Dương. Tuy vậy, công việc khai thác than ở Na Dương lần này cũng chỉ ở quy mô nhỏ, khai thác thủ công bằng cuốc xẻng và sức người, bắt phu là đồng bào ở các bản làng lân cận, là chính. Sau đó, tại đây, Retip cho mở một đường goòng để chở than vào cơ sở sản xuất điện và xưởng sản xuất đất đèn, được đặt ngay gần mỏ. Có khoảng 200 người tham gia sản xuất than với đồng lương rẻ mạt, trả theo tuần, song làm việc hết sức cực nhọc, tới 10 - 12 tiếng một ngày. (Chủ nhật vợ chồng Retip thường về thị xã Lạng Sơn, ít khi ở lại mỏ; công việc trông coi, cai quản, sản xuất tại mỏ do chủ nhì và một số viên cai người Việt đảm nhận, như cai Ánh, cai Thuôi... Những ngày ở lại mỏ, vợ chồng Retip thường tổ chức đi săn bắn và câu cá).
Năm 1940, cùng với việc khai thác than tại mỏ Na Dương, Công ty điện mỏ Đông Dương còn thành lập xưởng chế biến cacbua canxi đặt tại đồi Nà Còi, bản Pác Còi, xã Sàn Viên để cung cấp cho xưởng sản xuất ôxy và axetylen. Dấu tích còn lại của xưởng làm đất đèn là một căn nhà xây kiên cố, có 1 tầng hầm. Tầng hầm để máy phát điện, loại máy 300kVA, phía trên tầng hầm có 4 nồi hơi khá lớn. Phía sau là khu vực xưởng sản xuất đất đèn, có 1 bể bê tông hình bầu dục. Phía trước xưởng có hệ thống mương dẫn nước xây bằng gạch để máy bơm hút nước từ suối Toòng Già lên, chảy vào xưởng sản xuất. Nước thải chảy ra phía bắc, đổ trả lại suối. Đây là một địa điểm thuận lợi cho việc cung cấp nguyên liệu: Than khai thác ngay tại chỗ, đá vôi khai thác và vận chuyển từ Lạng Sơn vào, nhiên liệu cho điện đốt than được khai thác tại các vỉa than lộ thiên gần đó. Một năm xưởng sản xuất được khoảng 3,6 tấn, cao nhất tới 5 tấn đất đèn.
Để tiện cho việc đi lại và vận chuyển sản phẩm, Retip cho phu làm đường từ ngã ba mỏ vào ngã tư Nà Đươi, rộng khoảng 2,5m, cùng với việc làm đường, Retip còn cho làm cầu Nà Lèo (nay là cầu Nhiệt điện).
Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Phát xít Nhật dùng máy bay bắn phá vào khu vực sản xuất điện và khu sản xuất đất đèn, phá cơ sở sản xuất của CEMI. Chủ Pháp và công nhân bỏ nhà máy. Từ đó mỏ than Na Dương lại rơi vào quên lãng.
Trong quá trình lao động, những phu mỏ Na Dương đã bị bọn chủ mỏ, cai ký bóc lột thậm tệ, đánh đập dã man. Họ đã biết đoàn kết lại đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, cấm đánh đập. Tuy vậy, việc đấu tranh là tự phát, bằng hình thức lãn công là chủ yếu.
Trong khai thác than ở Na Dương, bọn chủ mỏ chỉ tập trung cho việc lấy than, không chú ý đến việc nâng cao, mở mang dân trí và bảo vệ môi trường. Vì thế các vỉa than lộ thiên được khai thác bừa bãi, than tự bốc cháy, khói, mùi nồng nặc, nước nhiễm a xít chảy xuống suối gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của dân chúng trong vùng. Nhiều gia đình phải chuyển chỗ ở đến các bản lân cận...
55 năm qua, Than Na Dương đã cung cấp hàng triệu tấn than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng (khi chưa có than Na Dương, phải nhập ngoại loại than này của Trung Quốc) và cung cấp nhiều triệu tấn than khác cho Công ty xi măng Bỉm Sơn; phục vụ đắc lực cho công nghiệp xi măng của nước nhà sau khi thống nhất đất nước. Trong tiến trình lịch sử của mình, Mỏ than Na Dương, Xí nghiệp Than Na Dương trước đây và nay là Công ty Than Na Dương là một trong những công trình trọng điểm của nhà nước, được xếp loại I do vai trò, vị trí trong nền kinh tế quốc dân, trong chuỗi: Mỏ than Na Dương - Công ty xi măng Bỉm Sơn - Nhà máy thủy điện Hòa Bình có một sự liên hệ khăng khít. Thiếu than Na Dương đồng nghĩa với việc thiếu xi măng và ảnh hưởng gián tiếp ngay đến công trình thế kỷ thủy điện sông Đà. Các vị bộ trưởng xây dựng hồi đó đã từng trực tiếp đến mỏ thị sát và động viên như các ông Đồng Sỹ Nguyên, Ngô Xuân Lộc. Hiện nay, bên cạnh việc cấp than chủ yếu cho Nhà máy nhiệt điện Na Dương, Than Na Dương tiếp tục cung cấp than theo yêu cầu tiêu thụ của Công ty xi măng Bỉm Sơn. Chính vì thế, Than Na Dương với tầm quan trọng đặc biệt của mình, đã đóng góp một phần nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày nay, dự án mở rộng mỏ than Na Dương nằm trong tổng thể của Dự án Than - Điện có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khu vực, của ngành Than - Khoáng sản Việt Nam nói riêng và của nền kinh tế quốc dân nói chung. Theo đó, sẽ phát triển các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn - một tỉnh miền núi, biên giới còn nghèo. Dự án Than - Điện Na Dương phát triển còn tạo ra việc làm cho hàng ngàn lao động có thu nhập và đời sống ổn định. Điểm công nghiệp Than - Điện Na Dương đã và sẽ được đô thị hóa. Các loại hình dịch vụ phát triển, tạo ra sự cung cầu, cơ sở hạ tầng ngày một cải thiện và nâng cấp, tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển theo.
Bên cạnh tạo ra sự phát triển về kinh tế, văn hóa, đời sống tăng trưởng đồng bào khu vực, còn phải kể tới một vị trí không kém phần quan trọng của công nghiệp Than - Điện Na Dương. Đó là tạo ra một vùng an toàn về an ninh chính trị, trật tự xã hội ở vùng biên giới - huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

                                                                       Nguyễn Quang Tình

                                           ( Hết phần I )
        Ghi chú : Bài viết có tham khảo tài liệu lưu trữ của Công ty than Na Dương,
của Kỹ sư Phạm Đức Thiện, Kỹ sư Lý Văn Lục và Phòng Tuyên truyền văn hóa công ty.



Ảnh: Quyết định thành lập Mỏ than Na Dương


CÔNG TY THAN NA DƯƠNG
  55 XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU, SẢN XUẤT
VÀ LIÊN TỤC  PHÁT TRIỂN


PHẦN THỨ HAI
 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP MỎ, VIỆC TỔ CHỨC
 XÂY DỰNG, QUẢN LÝ VÀ SẢN XUẤT THAN

(Giai đoạn 1959 -1965)
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và thành công của Hội nghị Giơnevơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược và bè lũ tay sai. Nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước lúc này là: hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc trở thành hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Các phong trào thi đua lao động sản xuất ở miền Bắc được dấy lên mạnh mẽ. Lúc bấy giờ Nhà máy xi măng Hải Phòng là nhà máy duy nhất sản xuất xi măng để xây dựng đất nước. Để có than ngọn lửa dài đốt lò sản xuất Clinker cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà nước ta phải mua loại than này của Trung Quốc với giá rất đắt và phải vận chuyển rất xa từ mỏ than Bình Hương ở Hoa Bắc xuống Hoa Nam bằng tàu biển và có hai tàu chiến hộ tống. Tuy vậy, phía bạn cho biết khó có thể đáp ứng được đầy đủ theo yêu cầu.

Ảnh: Bóc đất đá mở rộng tuyến tầng tại Công trường khai thác, mỏ than Na Dương. ảnh của Bùi Quang Tuynh.


Trước tình hình đó, qua quá trình rà soát, với tài liệu của Pháp để lại chúng ta thấy có loại than này trong nước ở vùng Na Dương, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, trước đây thực dân Pháp đã mở công trường lấy than ở đó. Than Na Dương có thể khai thác đáp ứng cho Nhà máy xi măng Hải Phòng. Do đó Chính phủ ta quyết định tự túc, để giảm khó khăn cho bạn, ta giảm được ngoại tệ và giá cao. Năm 1956, Bộ Công nghiệp cử một đoàn cán bộ của Cục Khai - Hóa - Luyện (Khai khoáng - Hóa chất - Luyện kim) và Cục Địa chất đến mỏ Na Dương nghiên cứu tại thực địa. Năm 1957, Đoàn Địa chất 4 gồm 20 người, do ông Dương Văn Dậu phụ trách, có cả chuyên gia Liên Xô tham gia, đến Na Dương điều tra cơ bản và khoan thăm dò. Đoàn cán bộ ở nhờ nhà Ké Khèn và một số gia đình khác tại bản Nà Đươi, xã Sàn Viên. Đồng thời Bộ Công nghiệp cũng cử một số cán bộ đến Na Dương thuê nhân dân khai thác lấy 500 tấn than. Số than này được chuyển bằng xe ngựa ra thị xã Lạng Sơn để chuyển về Hải Phòng. Tháng 4 năm 1958, Nhà máy xi măng Hải Phòng tiếp nhận được số than trên và đưa vào đốt thử. Tháng 9 năm đó, Nhà máy báo cáo lên Bộ và Chính phủ kết quả dùng than Na Dương thay than Bình Hương - Trung Quốc là rất tốt. Ngày 10 tháng 01 năm 1959, Bộ Công nghiệp có quyết định số 104 BCN/KH4 quyết định khôi phục lại Mỏ than Na Dương. Toàn văn Quyết định như sau:

 
  Bộ công nghiệp
Số: 104 BCN/KH4                   Việt nam dân chủ cộng hòa
         Độc lập - Tự do - Hạnh phúc      
                                                        Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 1959

Bộ trưởng bộ công nghiệp
- Căn cứ vào yêu cầu cấp thiết than cho Nhà máy xi măng có than để nung Clinker trong năm 1959-1960;
- Căn cứ vào khả năng tài nguyên đã nắm được, trước đây đã khai thác 500t đưa về Nhà máy xi măng chạy thí nghiệm;
- Căn cứ vào việc chạy thí nghiệm than Na Dương để nung Clinker kết quả tốt và yêu cầu của Nhà máy xi măng;
Quyết định
Điều 1. - Khôi phục lại Công trường Na Dương thuộc huyện Lộc Bình, Lạng Sơn để khai thác than dùng cho Nhà máy xi măng.
Điều 2. - Việc chuẩn bị Công trường càng sớm càng hay, để có thể chính thức sản xuất vào đầu tháng 2/1959.
Điều 3. - Để chuẩn bị Công trường được chu đáo, bảo đảm thời gian đi vào sản xuất bình thường, có kế hoạch thì các Vụ có trách nhiệm như sau:
- Vụ Kỹ thuật cử cán bộ lên hướng dẫn nơi khai thác than, mở công trường để đảm bảo tài nguyên sản xuất được điều hòa.
- Vụ Tài vụ cấp phát tiền theo như đề án khai thác của mỏ than Na Dương, có vốn kiến thiết cơ bản phục hồi công trường và vốn sản xuất, đồng thời cử cán bộ giúp mỏ lập kế hoạch sổ sách kế toán, tài vụ đi vào có nền nếp.
- Vụ Cán bộ tổ chức cung cấp đầy đủ cán bộ và cử Ban phụ trách khôi phục mỏ.
- Vụ Kế hoạch sản xuất chuẩn bị kế hoạch toàn năm và từng quý, giúp mỏ có kế hoạch sản xuất toàn diện, cân đối.
Điều 4. - Trong khi tiến hành công việc, cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan địa phương tỉnh Lạng Sơn để công tác giúp đỡ cho mọi công việc được tốt, nhất là vấn đề cung cấp nhân công.
Điều 5. - Ông Chánh văn phòng, các ông Giám đốc Vụ Kế hoạch, Vụ Tài vụ, Vụ Kỹ thuật, Vụ Tổ chức cán bộ và Ban phụ trách xây dựng Công trường chiểu quyết định này thi hành./.
Nơi gửi
- Thủ tướng Phủ         (để báo cáo
- UBKH Nhà nước     (       ''
- Bộ Tài chính             (       "
- VP Bộ                       (để thi hành
- Vụ KH sản xuất        (       "
- Vụ Tài vụ                  (       "
- Vụ Kỹ thuật               (       "
- Vụ Cán bộ tổ chức    (       "
- Ban PT phục hồi        (       "
- Lưu HC Bộ, KH4, người theo dõi
- Lưu KH1    KT bộ trưởng
bộ công nghiệp
thứ trưởng

Đã ký


Vũ Anh


Ảnh: Khu tập thể Than Na Dương   

 
Ngay sau khi có quyết định số 104 BCN/KH4, tháng 01 năm 1959, Bộ Công nghiệp cử đồng chí Trung tá Hoàng Liên Đoàn, bộ đội chuyển ngành, giữ chức vụ giám đốc, cùng với 3 cán bộ giúp việc tới Na Dương để làm công tác chuẩn bị. Các cán bộ giúp việc gồm trung úy Ma Văn Cựu cùng hai kỹ thuật viên Hoàng Văn Hướng và Nguyễn Văn Đạo. Thời gian đầu về mỏ, đoàn cán bộ ở nhờ nhà Ké Khèn, khẩn trương làm công tác chuẩn bị đón tiếp lực lượng bộ đội chuyển về. Đoàn xây dựng hai trạm đón tiếp, trạm 1 đặt tại nhà ông Thanh Sơn (ga Kỳ Lừa cũ), sau chuyển sang nhà ông Chu Viết Huynh (phường Đông Kinh); trạm 2 đặt tại đồi Phiêng Bất (nhà máy nhiệt điện hiện nay).
Đầu năm 1959, bộ đội chuyển ngành về mỏ đông, để đáp ứng yêu cầu đón tiếp, trạm 1 chuyển sang Cửa Nam (Tỉnh đội cũ). Nhiệm vụ của trạm là vừa đón tiếp bộ đội, bố trí ăn, nghỉ, vừa chuẩn bị làm nhiệm vụ giao nhận than (tiền thân Trạm than của mỏ). Tháng 2 năm 1959, các chiến sĩ bộ đội chuyển ngành được điều tới mỏ, có 267 người. Họ là các chiến sỹ, thuộc các quân binh chủng của các đại đoàn 304, 308, 316, 320, 351... đã từng tôi luyện, thử thách trong cuộc chiến đấu vệ quốc vĩ đại của dân tộc; được biên chế thành 6 trung đội. Trong số các chiến binh về mỏ, có 3 người nước ngoài, là các ông Milut (người Angieri), Movala (người Cônggô), đặc biệt là ông Nguyễn Văn Lập (người Hy Lạp) - mang tên, họ Việt Nam. Ông là lính đánh thuê của Pháp. Nhưng khi đến Việt Nam, nhận rõ bản chất cuộc chiến do thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương là phi nghĩa, lại được quân đội Việt Nam tuyên truyền, giác ngộ, các ông đã chạy sang hàng ngũ của ta, trở thành chiến sỹ đứng trong hàng ngũ quân đội Việt Nam đánh lại thực dân Pháp. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, các ông tình nguyện ở lại Việt Nam. Trong đó ông Nguyễn Văn Lập đã trở thành đảng viên Đảng lao động Việt Nam (nay là Đảng cộng sản Việt Nam). Do có sức khỏe tốt, có trình độ, các ông được quân đội cử đi học lái xe. Khi chuyển ngành sang làm kinh tế, năm 1962 các ông được điều về mỏ Na Dương, trở thành những lái xe của mỏ.
Cùng với việc đón tiếp bộ đội, mỏ đã báo cáo với Tỉnh ủy Lạng Sơn về việc công bố quyết định thành lập mỏ và xin tăng cường cán bộ. Tháng 2 năm 1959, Tỉnh ủy Lạng Sơn cử hai cán bộ có kinh nghiệm là các ông Nông Lân Anh về làm công tác xây dựng Đảng và công tác tổ chức, ông Trần Thanh về làm công tác xây dựng tổ chức công đoàn.
Trước khi thành lập mỏ, số đảng viên chưa nhiều (có khoảng 19 đảng viên), nên Tỉnh ủy cho thành lập Ban cán sự Đảng, do đồng chí Hoàng Liên Đoàn làm Trưởng ban, đồng chí Nông Lân Anh làm Phó ban, đồng chí Trần thanh là ủy viên. Tiếp đó là thành lập Chi bộ. Bí thư là đồng chí Hoàng Liên Đoàn, Phó bí thư đồng chí Nông Lân Anh và Chi ủy viên là đồng chí Trần Thanh. Sau khi thành lập mỏ, số đảng viên là bộ đội chuyển về tăng lên trên 59 người, nên tháng 6 năm 1959, mỏ đã đề nghị với tỉnh thành lập Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, gồm 5 chi bộ. Ban chấp hành lâm thời gồm 5 đồng chí: Đồng chí Hoàng Liên Đoàn làm Bí thư, Đồng chí Nông Lân Anh là Phó bí thư và 3 Đảng ủy viên là Đ/c Trần Thanh, Đ/c Nguyễn Đạt Nống và Đ/c Nguyễn Văn Ngọ. Cùng với việc thành lập Đảng bộ, các tổ chức công đoàn và đoàn thanh niên cũng được thành lập. Đồng chí Trần Thanh được cử làm Thư ký công đoàn kiêm Bí thư chi đoàn.
Ngày 21 tháng 3 năm 1959, làm lễ thành lập Mỏ Than Na Dương, mà trong các văn bản nhà nước lúc bấy giờ còn gọi là Xí nghiệp (Mỏ than Na Dương, Xí nghiệp Than Na Dương). Đồng chí Vũ Anh, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp tuyên bố và đọc quyết định. Theo đó, nhiệm vụ chính của mỏ là khai thác than cung cấp cho Nhà máy xi măng Hải Phòng. Ngày 21-3-1959 đã chính thức trở thành ngày thành lập Mỏ than Na Dương, Xí nghiệp Than Na Dương và nay là Công ty Than Na Dương.
Ngày 01 tháng 04 năm 1959, mỏ làm lễ ra quân khai thác.
Đến tháng 6 năm 1959, bộ máy quản lý mỏ được thành lập. Gồm: Giám đốc kiêm bí thư chi bộ; Phó giám đốc kiêm phó bí thư chi bộ; Thư ký công đoàn kiêm bí thư chi đoàn; Ban kế hoạch (có 3 người); Ban tài vụ (4 người); Ban kỹ thuật (3 người); Ban cung tiêu (3 người) và Ban hành chính (4 người).
Lực lượng công nhân biên chế thành 6 trung đội sản xuất than và 1 tiểu đội vận tải. Trong các trung đội, từ tháng 7/1959 còn có 1B nữ, gọi là B7, gồm các nữ công nhân giao thông sửa đường của Ty giao thông tỉnh Lạng Sơn chuyển vào và một số chị vợ bộ đội được tuyển vào mỏ.
Sau 9 năm trường kỳ kháng chiến của dân tộc, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc hòa bình, những người lính có quyền được trở về quê hương. Nhưng nghe theo tiếng gọi của Đảng, Chính phủ, rời tay súng các anh lại chắc tay búa, đến với vùng đất Na Dương xa xôi, cho một cuộc chiến đấu mới - sản xuất than làm giàu cho Tổ quốc. Các anh đã xác định, cuộc chiến này tuy ít đổ máu xương, song cũng rất nhiều khó khăn, gian khổ. Một vùng rừng núi khắc nghiệt, thiếu thốn trăm bề, dân cư  thưa thớt... Song với bản chất anh bộ đội Cụ Hồ, "làm than cũng như đánh giặc", các anh đã cùng nắm tay nhau, xiết chặt đội ngũ, tiếp tục vượt qua thử thách, khó khăn.Những năm này, ở miền Bắc, đất nước ta đang thực hiện kế hoạch 3 năm phục hồi và xây dựng kinh tế để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
Từ tháng 6 năm 1959 đến đầu năm 1960, có thêm 24 đảng viên mới, là các đảng viên tiếp tục chuyển đến và số đảng viên mới do Đảng bộ kết nạp, nâng tổng số đảng viên lên 83 đồng chí, sinh hoạt tại 5 chi bộ. Ngày 1-5-1960, Đại hội Đảng bộ mỏ lần thứ nhất được tiến hành tại căn nhà tranh chân đồi Nà Lay, xã Sàn Viên (khu Nhà máy điện hiện nay), với 83 đảng viên tham dự. Đại hội bầu Ban chấp hành gồm 5 đồng chí: Hoàng Liên Đoàn, Nông Lân Anh, Trần Thanh, Nguyễn Đạt Nống và Nguyễn Văn Ngọ. Các đồng chí Hoàng Liên Đoàn, Nông Lân Anh và Trần Thanh được bầu vào Ban Thường vụ Đảng ủy. Đồng chí Hoàng Liên Đoàn giữ chức Bí thư, đồng chí Nông Lân Anh, Phó bí thư. Ngày 15-8-1960, Tỉnh ủy Lạng Sơn đã có Quyết định số 41/TU-BTC chính thức công nhận Ban chấp hành Đảng bộ mỏ. Cuối năm đó, Đảng bộ mỏ mở hội nghị kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất. Hội nghị chỉ rõ: “ Đảng ủy phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Tập trung cao độ mọi mặt cho sản xuất, ổn định đời sống, quyết tâm hoàn thành toàn diện nhiệm vụ chính trị cấp trên giao. Đồng thời củng cố tổ chức, phát triển đảng viên mới để tăng cường sức chiến đấu cho Đảng. Thường xuyên chăm lo bồi dưỡng lý luận, những quan điểm, đường lối của Đảng, nâng cao lập trường tư  tưởng, kiên định, vững vàng, không dao động trước khó khăn, gian khổ. Động viên mọi đảng viên, công nhân, cán bộ tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, yên tâm sản xuất, vượt qua thử thách ban đầu...”
Vừa bắt tay thực hiện nhiệm vụ sản xuất được 1 năm, trong khi còn gặp nhiều khó khăn về sản xuất và đời sống, thì tháng 3 năm 1960, công nhân, cán bộ và lực lượng tự vệ mỏ được Tỉnh đội Lạng Sơn giao nhiệm vụ tiêu diệt một toán phỉ do các tên Phan Văn Thử và Nông Văn Lịch cầm đầu, nổi lên tại các xã Đông Quan, Lợi Bác, câu kết với một số tên phản động của huyện Sơn Động (Bắc Giang), có âm mưu kích động những phần tử xấu cướp vũ khí của Nông trường Việt - Mông (nằm trên địa bàn xã Đông Quan, sau này gọi là Nông trường Đông Quan) và tự vệ mỏ, phá rối an ninh chính trị vùng biên giới, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Lực lượng tự vệ của mỏ đã liên tục bao vây, truy quét, mặc dù địa hình hiểm trở, bọn phỉ là người địa phương thông thạo địa hình, lại rất nguy hiểm; một mặt vừa tuyên truyền vận động đầu hàng, một mặt kiên quyết bao vây tiêu diệt. Sau 3 tháng truy quét, với một trung đội tăng cường gồm 48 chiến sỹ tự vệ, tổ chức 6 trận đánh, đã đập tan hoàn toàn toán phỉ, tiêu diệt tại chỗ 2 tên, bắt và giáo dục giao về địa phương 40 tên, 2 tên cầm đầu giao cho luật pháp xét xử, thu 5 súng trường, 25 mã tấu và dao quắm. Thắng lợi này triệt phá được âm mưu phản động của kẻ địch, xây dựng được lòng tin cho nhân dân các dân tộc, nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao được tinh thần đoàn kết công - nông liên minh; nhân dân vùng biên giới và công nhân, cán bộ yên tâm sản xuất, góp phần xây dựng và bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm trong sạch địa bàn vùng mỏ đứng chân.Năm 1959 và 1960, việc khai thác than ngoài lực lượng của mỏ (năm 1960, số lao động của mỏ có 410 người), đơn vị còn thuê thêm bà con nông dân lúc nông nhàn của các bản quanh mỏ đến làm. Số người này sau được mỏ tiếp nhận vào làm công nhân chính thức. Việc khai thác rất thô sơ, bằng sức lao động và cộng với quang, ky, cuốc, xẻng, búa, choòng là chính.Tầng mở cao chừng 2m, chiều rộng mặt tầng chừng 3 đến 4m. Khai trường dựa vào hào của địa chất thăm dò nơi đất phủ chừng 1 đến 2m. Ngày đầu khai thác tại hào 12A, khoảng cầu Nà Đươi bây giờ, chiếu thẳng góc với phương vỉa. Bốc đất mặt bằng sức người cộng với cuốc, xẻng, xúc vào ky rồi gánh đổ thải cách nơi đang sản xuất hơn 50m. Khấu than bằng cuốc chim, tách từng lớp than, xít riêng, dùng xẻng gạn chọn than xúc vào ky gánh lên bãi tập trung. Để có năng suất cao, công nhân đã nghĩ ra cách dùng choòng và búa tạ đánh chèn vào vỉa rồi dùng xà beng bẩy.
 Hạ moong kiểu đào thùng đấu như công nhân thủ công làm đất gạch, bậc lên xuống cắt như bậc thang. Khi xuống tới 2m đặt cầu bằng ván bìa (xẻ ra từ xưởng gỗ của mỏ ở Tiên Yên) rồi đóng những thanh ngang cao 5 phân, cách nhau một nhịp bước, đặt dựng từ nền tầng dưới đến nền tầng trên. Trong ba khâu cuốc, đánh búa bẩy than; xúc tách chọn than khỏi đất đá, xít; gánh vận chuyển, ba khâu này phân làm ba nhóm thay đổi nhau trong ca, do cường độ mỗi khâu nặng nhọc khác nhau (trong một tổ sản xuất). Thời gian làm việc như giờ hành chính: làm 2 buổi (trưa về ăn cơm). Mùa hè làm việc trên than thật khắc nghiệt. Nóng hầm hập. Mồ hôi ra ướt đẫm, như tắm. Có người ngất trên đống than. Mùa đông ngược lại, rét cắt da, có ngày nhiệt độ có lúc xuống 1 - 2 độ C, có váng băng trên mặt hồ. Người công nhân rét cóng, cầm tới xà beng tê buốt không chịu nổi. Gió bấc gào thét như những ngọn roi quất vào mặt liên tục. Những ngày mưa dầm nỗi vất vả càng tăng lên; cộng với than tự cháy trên đống và xít cháy trên bãi thải, làm cho không khí ngột ngạt khó thở. Than, xít cháy khói tỏa khắp khai trường như mùi trứng thối rất khó chịu. Nhìn từ trên đồi xuống khai trường như phủ một lớp sương mù màu xanh nhạt.
Trong một tài liệu có đóng dấu "MẬT" của Cục Vật tư (Công văn số 52 V/F, ngày 18 tháng 4 năm 1961, gửi các đồng chí Lê Thanh Nghị, Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp Thủ tướng Phủ; Nguyễn Văn Trân, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp) có nói về than Na Dương như sau:
"Than Na Dương có trữ lượng lớn, mới sơ bộ điều tra và đã kết luận chính thức là 75 triệu tấn, nằm trên mức thông thủy; khai thác với mức như hiện nay 6 vạn tấn một năm thì hơn nghìn năm mới hết.
Than Na Dương có chất bốc cao, có nhiều lưu huỳnh, gây nhiều khó khăn trong công tác khai thác, bảo quản và bảo vệ sức khỏe công nhân. Nước có lưu huỳnh tạo nên độ a xít cao làm cá chết, gây nhiều bệnh về đường ruột. Đá xít (shiste) khi bốc ra gặp không khí cháy, trên các hào khai thác, xít cháy khói nghi ngút, ảnh hưởng đến cây cối của làng Pạc Còi, thở ngột ngạt hại sức khỏe công nhân. Trước đây bọn chủ Pháp phải chở nước từ 30, 40 cây số về uống. Xí nghiệp đã chủ trương di chuyển địa điểm của công nhân ở xa mỏ khoảng 9, 10 cây số, nhưng đại bộ phận phải ở tại mỏ vì thiếu nhà cửa, thiếu phương tiện vận chuyển chở công nhân đi về làm việc. Vì khó bảo quản, dễ bốc cháy, nên năm 1960 đã hao hụt hơn 6.000 tấn than, trị giá 231.258 đồng...”
Để có phương tiện vận chuyển đất đá, than khai thác và than tiêu thụ (Na Dương - Lạng Sơn), đáp ứng yêu cầu sản xuất của mỏ, tháng 2/1959, Bộ điều cho mỏ 2 xe ô tô IFA. Mỏ cử 3 đồng chí là Nguyễn Văn Quế, đồng chí Vịnh và đồng chí Đinh, do đồng chí Vịnh làm tổ trưởng về Hà Nội nhận xe, song chỉ  được 1 xe qua cầu Long Biên, bằng sáng kiến tháo bớt một lốp phía ngoài mới đi vừa vào đường lòng cầu. Xe còn lại, tháng 3 năm ấy, mỏ đưa về Nhà máy xi măng Hải Phòng đổi lấy 2 xe XITA (cổ rụt). Các xe này tham gia chở bộ đội từ thị xã Lạng Sơn về mỏ và đi Châu Sơn, Tiên Yên để chở gỗ, tranh tre nứa lá về làm doanh trại. Tháng 6, mỏ nhận thêm 2 xe OAI của Mỹ từ Xí nghiệp Crômmit (Thanh Hóa) điều về. Đầu năm 1960, được nhận 5 xe bò tót. Năm 1961, nhận 5 xe PRAGA. Các năm 1962 và 1963, được bổ sung thêm 4 xe SPEN, 4 xe Cờ đỏ, 10 xe TATRA và các thiết bị khoan, xúc, gạt, một số máy gia công cơ khí, để phục vụ cho việc sản xuất chuyển dần sang cơ giới từng phần, bán cơ giới, tiến tới cơ giới hóa toàn phần.
Trong những năm thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, số xe này được phân thành 2 tổ, một tổ vận chuyển than, đất trong hào nên gọi là Tổ xe hào, một tổ làm nhiệm vụ vận chuyển công nhân từ Lộc Bình vào mỏ, chở than ra Lạng Sơn và vận chuyển vật tư hàng hóa khác phục vụ công nhân, cán bộ, được gọi là Tổ xe đường dài.
Những năm đầu, việc vận chuyển than của mỏ chưa đáp ứng được cho yêu cầu của Nhà máy xi măng Hải Phòng, do đó mỏ ký hợp đồng với Công ty vận tải Lạng Sơn (công ty hợp doanh), sau đó sản lượng mỗi năm một tăng, mỏ ký tiếp với Công ty vận tải Cao Bằng (Đoàn 10) để có đủ phương tiện chuyên chở.
Có một việc bây giờ vẫn còn là bài học. Đó là vào tháng 4/1959, khi mới bắt đầu giao than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, do than được đổ chất đống cao tại sân ga Lạng Sơn, nên chúng đã tự cháy, làm cháy 20m đường ray và tà vẹt. Mỏ phải liên hệ với lực lượng bộ đội của tỉnh và huy động hơn 20 công nhân đến ứng cứu. Vụ này đã bị Tổng cục đường sắt lập biên bản phạt. Phía mỏ, 1 người bị thương vào mắt. (Sau đó mỏ chuyển Trạm than và đề nghị tỉnh Lạng Sơn cho chuyển bãi than sang ga Kỳ Lừa).
Tháng 10/1959, mỏ được Bộ tăng cường cho 4 cán bộ kỹ thuật tốt nghiệp Trường Trung cấp kỹ thuật I và II. Đó là các đồng chí Triệu Tùng, Lê Mạnh Thu, Lê Hồng và Nguyễn Văn Đạo. Đây là lớp cán bộ kỹ thuật nòng cốt đầu tiên của mỏ.
Từ khoảng giữa năm 1960, cung độ vận chuyển xa dần do khai trường mở rộng. Đất đá, xít được gánh đổ vào phễu chứa, ô tô vào lấy đổ đi; than cũng được gánh đổ vào phễu, ô tô lấy đổ tập trung vào bãi tiêu thụ.
Đến năm 1961, khâu vận tải trên khai trường được bổ sung thêm goòng. Tầng dưới gánh lên goòng, đẩy goòng đổ vào phễu, ô tô chở từ phễu ra bãi thải, ra bãi tập trung tiêu thụ. Tầng đặt đường ray, công nhân xúc trực tiếp lên goòng và đẩy ra phễu hoặc trực tiếp ra bãi thải.
Tài liệu có đóng dấu "MẬT" trên, viết: "Bọn chủ Pháp trước đây khai thác hơn 2.000 tấn than, và chế biến đất đèn tại chỗ. Bị phá hoại và dỡ phá hết khi khôi phục, kể cả đường ray và sắt vụn cũng không còn gì.
Thiết bị đã được cấp trong 3 năm có 12 chiếc goòng, 15 chiếc xe ô tô, 2 máy bơm, 2 máy điện cỡ nhỏ 12 kW, 1 máy gạt. Có cấp máy tiện và những máy móc khác dùng sửa chữa cơ khí, nhưng thiếu điện, chưa có xưởng cơ khí nên nằm chờ hơn năm nay trong kho...”
Năm 1962 được bổ sung máng cào và trục móc kéo than, từ moong lên phễu rót.
Năm 1963 bổ sung thêm băng tải vận chuyển than, lên phễu rót. Thời gian này khấu than vẫn là thủ công, vận chuyển đến đuôi máng cào, đuôi băng tải vẫn là quang gánh, ky, sọt. Năm 1964, bốc xúc được bổ sung cơ khí - loại máy xúc D051, D500 (0,5m3/gàu). Ô tô được trang bị xe bò (MA3), loại 6 tấn. Máy xúc chạy dầu. Khoan nổ mìn thủ công. Khoan dùng thuổng cán gỗ dài 3 - 4m, bằng chiều cao tầng. Đường kính lỗ khoan 8 - 10cm. Mũi thuổng dùng ống thép trong lò hơi của Pháp bị phá hủy. Bãi khoan và nổ mìn được cán bộ kỹ thuật của mỏ thiết kế, tính toán chỉ đạo nổ. Bắt đầu từ năm 1963, cán bộ trung, cao cấp kỹ thuật phát huy những kiến thức được đào tạo trong nhà trường vào thực tế sản xuất của mỏ vì đã bắt đầu sản xuất bán cơ khí, gồm xe goòng, trục móc, máng cào, băng tải, ô tô vận chuyển trên công trường.
Về nhà ở, những người đầu tiên đến mỏ vào ở trong 3 ngôi nhà của Sư đoàn 322 bỏ lại, tại đồi Phiêng Bất, xã Sàn Viên (nhà máy điện hiện nay), gồm 2 nhà trình tường, 1 nhà trát vách, không còn mái, không có cánh cửa. Cả ba đều tan hoang, trông thật tiêu điều.
Đêm đầu tiên, các đơn vị công nhân đều phải nằm màn trời chiếu đất, mắc màn trong nhà không có mái, nằm trong nhà không giường. Những người khó ngủ ngắm sao qua đêm trong màn và chịu khí lạnh của đất bốc lên qua chiếu. Sương đêm xuống làm ướt cả màn.
Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1959, giám đốc phân công lần lượt các trung đội đi Châu Sơn (Đình Lập) cắt gianh, chặt cây về làm nhà. Bộ phận ở nhà tiếp tục trình tường, dựng cột làm thêm nhà mới, tại sườn đồi Phiêng Bất, Nà Hình, đồi Nà Lay, Nà Có, tạo thành một khu gồm nhà ở, nhà ăn, hội trường, kho vật tư. Toàn bộ diện tích khu này nằm dưới nền nhà máy điện hiện nay.
 Giường nằm là những tấm phản rộng 0,9m, dài 2m, có 4 lỗ ở 4 góc cắm cọc màn, được kê trên 2 cái niễng và được kê thành hai hàng trong nhà. Giữa hai hàng là một lối đi chung rộng khoảng 1,5m. Mỗi trung đội (gọi là B) bố trí ở một nhà trình dài không có vách ngăn.
Ăn uống tại bếp tập thể. Ăn theo định lượng phân phối, 6 người một mâm. Cơm, rau đựng trong xoong, chậu. Mỗi người được phát một bát sắt. Giờ ăn, theo hiệu lệnh kẻng của cấp dưỡng. Ai đau dạ dày và ăn kiêng được một suất ăn riêng, ai ốm được báo cháo thịt hoặc đường. Nước ăn được lấy ở giếng đào, đục lờ lờ như  nước ruộng. Nước rửa là nước suối bắt nguồn từ kho mìn 20 tấn bây giờ, đục ngàu, có mùi phân và nước đái trâu. Chỉ có ngày chủ nhật, kéo nhau ra sông Pò Lọi, suối Toòng Già, suối Còn Chè để tắm giặt.
Năm 1960, mỏ dùng 2 xe ô tô thùng để đi lấy nước ở suối Háng Cáu, cách Lộc Bình khoảng 3km. Đi lấy nước có 2 công nhân, múc nước đổ vào thùng sắt chứa được khoảng 2m3. Từ đó nước ăn có chất lượng hơn. Tuy thế, những hôm xe không may bị hỏng lại ăn nước giếng lờ lờ.
Sinh hoạt buổi tối bằng đèn dầu. Mỗi tiểu đội có 2 cái. Do dùng đèn dầu, đã gây hỏa hoạn, cháy cả một khu, mất một nửa số nhà của mỏ. Đến tháng 10 năm 1959, mỏ mới được cấp một máy phát điện 1,5kW (loại dùng cho các đội chiếu bóng lưu động). Đêm đầu tiên có điện, các khu nhà công nhân reo hò mừng rỡ. Tuy đã có điện, nhưng không có loa, đài, công nhân túm tụm lại đánh cờ, đánh tú lơ khơ hoặc lên căng tin của mỏ ăn quà...
Đến năm 1963, mỏ có thêm 2 tổ máy điện 44kVA đặt ở bờ công trường phục vụ ánh sáng và bơm nước.
Than Na Dương là loại đặc chủng. Than cháy tạo ngọn lửa dài, phù hợp với công nghệ nung Clinker sản xuất xi măng lò quay bằng phương pháp ướt. Ngoài ra than có lượng lưu huỳnh rất lớn (từ 3 - 9%, trung bình 6%), nên khó dùng cho các công nghệ khác cần năng lượng của than (trừ một ít cho Than Hòn Gai phối trộn với than gầy để làm than luyện hay dùng để đốt đầu máy hơi nước tàu hỏa của ngành đường sắt). Đến thập niên 80 của thế kỷ XX có công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn dùng trong nhà máy nhiệt điện mới dùng được loại than này.
Do vậy, biến động lớn của mỏ than Na Dương phụ thuộc theo biến động của ngành xi măng công nghệ lò quay bằng phương pháp ướt giai đoạn 1960 - 1992.
Mỏ phải luôn đáp ứng nhu cầu than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng - nhà máy xi măng duy nhất. Sản lượng nâng dần thay thế cho việc nhà nước nhập dầu FO.
Trong tài liệu có đóng dấu "MẬT" nói trên, viết: "Lúc bắt đầu phục hồi khai thác, có 267 cán bộ, công nhân, nay tăng lên 563 người (hơn 400 là công nhân sản xuất).
Ta khai thác theo lối thủ công thô sơ, năm 1959 đạt 15 nghìn tấn, chỉ tiêu sản lượng năm nay là 60 nghìn tấn. Nguồn tiêu thụ than Na Dương năm 1961 là Xí nghiệp Ciment Hải Phòng dùng nung Clinker (45.000 tấn), Xí nghiệp than Hongay dùng pha chế với than gầy để làm than luyện (12.000 tấn), Tổng cục đường sắt (5.000 tấn).
Yêu cầu của Xí nghiệp mỗi tháng phải bán đủ 9.000 tấn than, mới đủ tiền chi dùng...".
Để tăng dần sản lượng, mỏ tiếp tục được đầu tư dần các thiết bị. Cho bốc xúc đất đá, có máy gạt DT54, máy gạt lật TO10E-C100, máy xúc gàu thẳng D051, D500, E1251, UNIKOP, có dung tích gàu từ 0,5m3 đến 1,2m3, động cơ chạy bằng dầu. Ô tô vận tải có xe bò tót (MA3), xe TATRA, có trọng tải 6 đến 10 tấn.
Sản xuất than chủ yếu bốc đất mặt, tìm theo các hào địa chất có chất lượng than tốt, có hệ số bóc thấp. Tên khai trường được gọi theo hào địa chất. Thiết kế khai trường do cán bộ mỏ tự lập, trình Bộ duyệt.
Năm 1959, khai thác Hào 12A.
Năm 1960, khai thác thêm Hào 12B.
Năm 1961, khai thác thêm Hào I.
Năm 1962, khai thác thêm Hào 6.
Đến năm 1965, bỏ Hào 6 vì chất lượng than xấu.
Cuối năm 1959, đầu năm 1960, cơ cấu tổ chức của mỏ được thay đổi một cách cơ bản, là tiền đề cho sự phát triển. Tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể ra đời, đánh dấu một bước ngoặt trên bước đường đi lên. Trước yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, công tác chỉ đạo và tổ chức sản xuất cũng có sự thay đổi.
Tháng 1/1960, mỏ thành lập các ban chuyên môn, nghiệp vụ, các công trường, phân xưởng gồm Ban: Tổ chức cán bộ, Lao động tiền lương, Kế hoạch, Kỹ thuật, Hành chính quản trị, Bảo vệ, Tài chính, Cung tiêu và Đội điện, nước sản xuất.
Mỏ có 3 công trường: A, B và C. Sau đó sáp nhập Công trường A và C thành Công trường 1, Công trường B thành Công trường 2 và thành lập mới Công trường 3. Phân xưởng có các phân xưởng Vận tải, Xây dựng cơ bản; thành lập Ngành đời sống, Đội cơ điện (gồm tổ rèn, tổ sửa chữa và tổ điện).
Các công trường có chánh, phó quản đốc, có ca trưởng; đi 2 ca, ca I bắt đầu lúc 6 giờ sáng, ca II kết thúc lúc 10 giờ đêm. Sau đó sản xuất thành 3 ca như hiện nay.
Đến năm 1962, các ban được đổi tên thành các phòng, có thêm Phòng điều độ sản xuất. Cụ thể:
- Phòng tổ chức cán bộ.
- Phòng lao động tiền lương.
- Phòng kế hoạch.
- Phòng kỹ thuật.
- Phòng điều độ.
- Phòng hành chính.
- Phòng bảo vệ.
- Phòng tài chính.
- Phòng cung tiêu.
- Phòng cơ điện.
Máy phát điện có 1 cụm máy lô cô (lò hơi kéo máy phát 40kVA); 2 cụm máy phát 44kVA chạy bằng động cơ nổ của C-100.
Phân xưởng cơ khí sửa chữa được xây dựng ở Pò Lọi, công nghệ chủ yếu là nguội, hàn, tiện. Công nhân kỹ thuật và một số cán bộ được điều từ mỏ thiếc Cao Bằng, mỏ apatit Lào Cai và các trường công nhân kỹ thuật ở Hải Phòng, Thái Nguyên, để đáp ứng yêu cầu về công nhân vận hành các loại thiết bị đã được tăng cường, bổ sung về.Cùng với việc tiếp nhận công nhân kỹ thuật từ các nơi, mỏ cũng có kế hoạch tự đào tạo theo hình thức đào tạo tại chỗ: Tuyển chọn công nhân có thành tích sản xuất và phẩm chất tốt đào tạo lái xe (khóa 1 đào tạo được 20 lái xe); các thợ vận hành, thợ sửa chữa gửi đi đào tạo ở mỏ Aptit Lào Cai, các khóa sau mỏ tự đào tạo lấy (đây có thể coi là tiền thân của Trường công nhân kỹ thuật mỏ sau này).Cán bộ kỹ thuật được tăng cường thêm. 1962-1963, có các kỹ sư khai thác, ô tô, máy kéo, phát động lực, chế tạo, phát dẫn điện, như Trương Công Điểu, Đàm Văn Đoàn, Nguyễn Võ Cát, Nguyễn Tường Vân, Võ Tấn Oanh, Phạm Gia Hiển của trường Đại học Bách khoa Hà Nội được Bộ điều đến.
Để tận dụng than loại 2 (gọi là than phụ phẩm), thực chất là xít ngậm than cộng với than vụn, cỡ hạt dưới 10 ly, thủ công không nhặt tay được, mỏ đã đốt đá, nung vôi để tự có vật liêu xây dựng. Từ năm 1960, mỏ đã thành lập đội sản xuất vật liệu xây dựng, tại Cầu Quang, khu Phiên Quăn, thị trấn Lộc Bình và một xưởng xẻ đặt tại huyện Tiên Yên (thuộc tỉnh Hải Ninh cũ, tỉnh Quảng Ninh bây giờ), có 30 công nhân. Xưởng được trang bị 6 máy xẻ, chủ yếu xẻ cầu phong, ly tô và xẻ ván (để làm phản nằm), cho việc xây dựng nhà ở, kho tàng, trường học của mỏ. Năm 1966, xưởng giải thể, về sáp nhập vào Công trường xây dựng cơ bản. Đội sản xuất vật liệu ở Cầu Quang chuyển lên khu Chộc Vằng, sau đó chuyển về làng Khòn Quanh. Khi xây dựng cụm nhà tập thể ở Pò Lọi, mỏ bắt đầu dùng than loại 2 đốt gạch bằng lò xếp nổi, khi than cháy đều mới đắp phủ lò.
 Năm 1959, trụ sở mỏ là khu nhà trình tường lợp tranh, cửa phên nứa (khu vực nhà máy điện hiện nay).
 Năm 1960, Bộ cho phép mỏ xây dựng khu Chộc Vằng, đầu cầu Pò Lọi, nhà cấp 4, bao gồm văn phòng làm việc của cơ quan quản lý, xưởng cơ khí, nhà tập thể cho khoảng 300 công nhân, nhà câu lạc bộ, nhà ăn tập thể, sân bóng đá và khoảng 30 căn hộ gia đình.
 Năm 1961, khi xây dựng xong, mỏ chuyển một số phòng ban và Công trường 1 ra làm việc và ở tại đó, hàng ngày có xe đưa đón đi làm theo ca. Mỏ điều một máy phát 16kVA ra phục vụ. Công nhân, cán bộ ở thành hai khu, khu nam và khu nữ. Tại đây, mỏ đã có dịp tổ chức đám cưới tập thể cho 3 đôi (đó là các đôi Lý Viết Uông - Đỗ Thị Xuân, Phạm Văn San - Phạm Thị Cương, và đôi Thiệu - Hương). Họ tìm hiểu, yêu thương nhau qua lao động sản xuất, mà nay nghe kể lại thấy thật cảm động: Cưới xong, do không có phòng hạnh phúc, không có nhà riêng, ai lại về nhà nấy, nam về khu nam, nữ về khu nữ, không đêm tân hôn, chẳng tuần trăng mật...
Sau hòa bình lập lại, Đảng ta thực hiện một số chủ trương, chính sách lớn: giảm tô, cải cách, cải tạo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa... đã động chạm đến quyền lợi một số các tiểu tư sản. Vì vậy một số phần tử xấu lợi dụng lúc trong bước chuyển đổi giai đoạn cách mạng còn nhiều vấn đề phức tạp, âm mưu kích động gây rối, chống đối chính quyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây khó khăn nhiều mặt cho việc thiết lập thiết chế xã hội mới. Đứng trước tình hình đó, Đảng ủy, giám đốc mỏ đã xác định việc xây dựng lực lượng tự vệ là nhiệm vụ hết sức quan trọng và hết sức cần thiết. Ngay từ ngày đầu thành lập, tháng 3-1960, Tiểu đoàn tự vệ mỏ than Na Dương đã được thành lập. Tiểu đoàn có 3 đại đội, trang bị gồm 30 khẩu súng trường 7,9 ly, 50 súng trường K44, 1 trung liên và 1 đại liên Macxim. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm đồng chí Hoàng Liên Đoàn, Bí thư Đảng ủy kiêm Giám đốc mỏ, là Tiểu đoàn trưởng, Nông Lân Anh, Phó bí thư đảng ủy, Phó giám đốc là Chính trị viên trưởng và đồng chí Trần Thanh, Thư ký Công đoàn là Chính trị viên phó. Sau đó bổ sung đồng chí Vi Long Chương làm tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn từ biên chế, trang bị, huấn luyện v.v. Đến cuối năm 1964, Tiểu đoàn đã lên tới 7 đại đội, được trang bị thêm 30 súng trường K44. Năm 1965, Tỉnh đội thu lại súng trung liên và đại liên, trang bị cho tiểu đoàn 4 khẩu pháo 20 ly.
Mỏ Na Dương đóng quân trên địa bàn vùng nhiều đồng bào dân tộc, công nhân, cán bộ rất quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết, nêu cao tinh thần đoàn kết công nông liên minh, giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế. Thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của Đảng, mỏ đã cử hàng chục lượt cán bộ có kinh nghiệm tổ chức, vận động quần chúng cùng địa phương tuyên truyền, vận động nông dân vào hợp tác xã, thực hiện có hiệu quả chương trình nông nghiệp nông thôn của địa phương. Bên cạnh việc chăm lo về đời sống cho công nhân, cán bộ, mỏ còn tổ chức các lớp học bổ túc văn hóa, thực hiện chủ trương xóa mù chữ trong công nhân của Đảng, mặc dù trường lớp, bàn ghế không có, sách bút, giấy mực còn thiếu thốn. Thời gian học là các ngày nghỉ và ban đêm, giáo viên kiêm chức, thầy và trò vẫn hăng say học tập. Kết quả, đã xóa mù chữ cho một số người, hàng chục người khác được nâng cao trình độ để sau này tham gia học nghề như lái xe, sửa chữa cơ khí...
Mỏ đã tổ chức các đội bóng đá, bóng chuyền luyện tập sau những giờ lao động vất vả, thi đấu giao lưu giữa các đơn vị trong nội bộ để nâng cao sức khỏe. Năm 1960, khánh thành cầu Pò Lọi, mỏ cử đội bóng đá tham gia thi đấu với đội Cầu đường 2, cầu thủ có cả Giám đốc mỏ. Năm 1961, đồng chí Hoàng Phùng, lái xe của mỏ đã đoạt chức vô địch giải Việt dã toàn quốc. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng cũng phát triển. Vào các buổi tối, công nhân, cán bộ tập trung hát cho nhau nghe những bài ca cách mạng, hát chèo, ngâm thơ, độc tấu... làm cho đời sống tinh thần thêm sôi nổi.Trong điều kiện đời sống ăn ở, sinh hoạt còn gặp rất nhiều khó khăn, lao động thủ công vất vả, song phong trào thi đua sản xuất của công nhân, cán bộ vẫn diễn ra sôi nổi. Như các phong trào "bỏ cờ xanh, giành cờ đỏ", "thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang", các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật: cải tiến đường ray cũ đưa toa xe goòng vào vận chuyển để giải phóng đôi vai; áp dụng máng rót để tăng năng suất lao động; sáng kiến sử dụng giỏ bơm gỗ thay thế giỏ bơm sắt do ngâm lâu ngày trong nước có chứa nhiều axit bị ăn mòn, gây hỏng (công nhân vận hành máy bơm Lý Viết Uông đã dùng gỗ, đục rỗng ruột, thay thế giỏ sắt, dùng được lâu ngày, giá thành lại rẻ, vật tư sẵn, khai thác tại chỗ. Sáng kiến này đã áp dụng nhiều năm, rất hiệu quả).
Từ các phong trào thi đua đó, nhiều tổ đội đạt danh hiệu lao động xã hội chủ nghĩa, cá nhân đạt chiến sỹ thi đua, lao động tiên tiến, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất các năm 1959-1960, kết thúc 3 năm cải tạo kinh tế của Đảng, làm tiền đề cho thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965.










 Khối lượng bốc xúc vận chuyển đất đá
 khai thác và tiêu thụ than 1959 – 1965
 
             Tên các chỉ tiêu          
Năm    Đất đá
(m3)    Than nguyên khai
(tấn)    Than tiêu thụ
(tấn)      
1959
1960
1961
1962
1963
1964
1965    35.323
59.614
155.378
260.269
284.441
232.639
284.675
    17.523
37.295
66.373
87.293
81.691
83.833
78.223
    17.382
25.561
63.690
74.568
69.155
74.143
64.500     


Giữa lúc công nhân, cán bộ mỏ than Na Dương đang ra sức thi đua lao động sản xuất, lập thành tích chào mừng 30 năm ngày thành lập Đảng, thì ngày 23-2-1960, một vinh dự lớn đã đến với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn: Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Tại sân vận động Đông Kinh (thị xã Lạng Sơn), Bác ân cần nói chuyện với đồng bào. Mỏ than Na Dương được vinh dự cử một đoàn đại biểu, gồm 30 công nhân, cán bộ, do đồng chí giám đốc dẫn đầu ra đón Bác và nghe Bác động viên, căn dặn.
Đại hội Đảng bộ mỏ khoá II họp ngày 01/03/1962, có 100 đảng viên ưu tú đại diện cho 156 đảng viên tham dự, đại hội bầu Ban chấp hành gồm 07 đồng chí, đồng  chí Hoàng Liên Đoàn được bầu làm Bí thư Đảng uỷ.
Đại hội Đảng bộ khoá III của mỏ họp ngày 19/9/1963, có 150/223 đảng viên tham dự, đại hội bầu Ban chấp hành gồm 09 đồng chí, đồng chí Dương Quốc Tiến được bầu làm Bí thư Đảng uỷ. Đồng chí Hoàng Liên Đoàn làm Giám đốc mỏ.

Ảnh: Sửa chữa thiết bị tại mỏ

Về y tế, là mỏ sản xuất loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao, độc hại, đóng quân xa trung tâm y tế địa phương và ngành, vì vậy, ngay từ những năm đầu, mỏ rất quan tâm đến công tác y tế. Năm 1963, được Ty Y tế Lạng Sơn giúp đỡ, mỏ đã thành lập trạm xá, có 2 y sỹ và một số y tá. Ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho công nhân, cán bộ, trạm xá của mỏ còn khám chữa bệnh cho bà con nhân dân khu vực mỏ đứng chân.
Khối kỹ thuật phải bám sát sản xuất, nên năm 1963 mỏ xây nhà cấp 4 làm văn phòng và tập thể của khối này ở phía nam đồi Còn Mòng, gần nhà máy điện bây giờ. Tại đó bố trí làm việc và ở cho Phó giám đốc kỹ thuật, Phòng Kỹ thuật, Phòng Cơ điện, Phòng Điều độ sản xuất, Phòng Lao động tiền lương, Phòng Tổ chức.
Năm 1964, bằng nguồn vốn cải tạo mở rộng do Ban cải tạo mở rộng quản lý, đã xây dựng sân công nghiệp, xưởng cơ khí (khu nhà máy điện hiện nay), xây dựng khu văn phòng (còn gọi là Nhà vuông) và 3 lô tập thể cạnh văn phòng (khu 6 gia đình hiện nay); đắp đập ngăn suối Khòn Chè, xây bể nước để lấy nước phục vụ cho cuộc sống của công nhân, cán bộ.
Năm 1964, giặc mỹ đánh phá ra miền Bắc, khu Pò Lọi phải sơ tán vào gần nơi sản xuất, vừa để không phải đưa đón công nhân đi làm việc. Trong thời gian này, thiết kế sơ bộ do Viện thiết kế tổng hợp lập được duyệt phần bố trí sân công nghiệp, đồng thời Ban kiến thiết cơ bản mở rộng cũng được thành lập trực thuộc Bộ. Cũng trong năm này, bằng nguồn vốn xây dựng cơ bản thường xuyên, mỏ xây khu 9 cho tập thể Công trường 1 và Đội điện sơ tán từ Pò Lọi vào.
Với thành tích trong lao động, sản xuất, xây dựng và phát triển, giai đoạn này mỏ được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen (năm 1959), Chủ tịch Nước tặng thưởng 2 Huân chương lao động Hạng Ba (1961, 1962), Bộ Công an tặng 2 Bằng khen (1960,1961) về công tác bảo vệ an ninh Tổ quốc và các Bằng khen khác của UBND tỉnh Lạng Sơn về thành tích trong lao động sản xuất.

                                                              Nguyễn Quang Tình – Biên tập


                                    Hết phần II

Bài viết có sử dụng tài liệu lưu trữ của Công ty than Na Dương, tham khảo thêm các tài liệu liên quan do Kỹ sư Phạm Đức Thiện, Kỹ sư Lý Văn Lục, Cử nhân Dương Thị Thúy Nga và một số cán bộ của Công ty than Na Dương. Ảnh kèm theo bài do đồng chí Bùi Quang Tuynh cung cấp.


















































 

Số lượt đọc: 6510 - Cập nhật lần cuối: 08:55 | 13/02/2014
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ