Cảm nhận Na Dương


                  Hùng Hải - CTV

Tôi đã nhiều lần đến với Na Dương. Một mỏ than thuộc Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin. Đúng hơn là một tổ hợp than điện của Vinacomin. Cảm nhận của tôi, đó là một vùng đất biên cương có bản sắc văn hóa và thiên nhiên còn gian khó nếu không nói là khắc nghiệt. Con người ở đây cũng vậy, song họ đã đoàn kết vượt lên tất cả, với tổ hợp than điện của Vinacomin nơi đây đã làm sáng bừng lên tất cả.


Hôm tôi đến Na Dương trong một ngày mùa thu năm 2013, trời mưa tầm tã. Lòng moong của mỏ than vùng biên giới này không kém gì các mỏ than lớn vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, với Na Dương, số phận dường như không được nuông chiều? Chị Dương Thị Thúy Nga, phó Giám đốc Công ty dẫn chúng tôi đi thực địa khai trường. Chị Nga là người phụ nữ rắn rỏi đã có cả tuổi thơ, tuổi xuân gắn bó với  vùng đất này. Chị cho biết, đất mỏ Na Dương rất quý người, đặc biệt khi trời mưa. Người đi, đế giày sẽ ở lại, vì đất sét ở mỏ gặp mưa là kết dính và trương nở, hút tất cả những gì dính vào nó. Mưa nhỏ thôi cũng đủ để các công nhân phải nghỉ việc và tính ra thời gian không làm được vì mưa đã hết gần một quý trong năm. Đó là một trong những khó khăn trong khai thác của mỏ mà Than Na Dương thường xuyên gặp phải. Tôi hiểu, ngoài phải bơm thoát nước moong, người Na Dương còn chịu ảnh hưởng khắc nghiệt của thời tiết. Ai cũng biết cái gió của Na Dương như thế nào rồi. Người ta từng có câu nói: “Ruồi vàng, bọ chó, gió Na Dương” để so sánh những cái gió khó chịu đặc thù của Na Dương, nếu không nói là độc hại !
Than Na Dương còn có nhiều nét đặc biệt. Tầng chứa than trên chạy dài từ phía Đông – Đông Bắc đến phía Tây Nam. Than Na Dương là loại than đặc chủng, ít có ở Việt Nam, là loại than nâu chuyển tiếp than ngọn lửa dài. Việc khai thác đã khó, nhưng việc sàng tuyển và lưu kho còn khó hơn rất nhiều. Trước đây, than được khai thác lên chưa dùng đến chỉ cần để lại có thể trong đêm đã bốc cháy mà đã cháy tự nhiên thì lưu huỳnh chưa được khử, nên bay ra mùi rất khó chịu. Thêm vào đó, khi gặp nước sẽ chuyển hoá thành axit sunfuaríc, loại axít này nếu thải ra môi trường sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường xung quanh. Nhưng đó chỉ là chuyện trước đây, còn bây giờ, việc xử lý các sự cố than cháy hay nước thải ra sông Kỳ Cùng ở Na Dương đã được đảm bảo an toàn.
Bên cạnh đó, việc tiêu thụ than Na Dương cũng gặp rất nhiều trở ngại. Bởi đặc thù là loại than ngọn lửa dài, nên chỉ dùng được trong công nghệ xi măng lò quay phương pháp ướt và cho các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn. Từ thập kỷ tám mươi, nước ta thực hiện nhiều công trình trọng điểm, theo đó, hàng loạt nhà máy xi măng được đầu tư xây dựng, trong đó có Nhà máy xi măng Bỉm Sơn công suất 1,2 triệu tấn/năm, theo công nghệ ướt của Liên Xô. Do vậy, than Na Dương là nguyên liệu mang lại hiệu quả nhất. Cán bộ công nhân hồi đó của Mỏ cũng được tăng cường lên đến trên 2 nghìn người, hầu hết là lao động địa phương. Thời kỳ này được coi là thời hoàng kim nhất của Mỏ Than Na Dương. Rồi sau này, xi măng mang thương hiệu của Vinacomin do chính những người thợ mỏ Việt Bắc làm ra, mỗi năm chừng 3 triệu tấn. Tuy nhiên, những năm gần đây, các nhà máy xi măng đã chuyển sang sản xuất theo phương pháp khô, đồng nghĩa với việc dừng tiêu thụ than Na Dương. Đây chính là một trong vấn đề nan giải nhất của Mỏ than Na Dương, làm thế nào để giữ sản xuất ổn định và còn bao nhiêu hệ lụy khác đến con người... Đó luôn là những câu hỏi được đặt trên bàn của những nhà lãnh đạo không chỉ đối với than Na Dương, Công nghiệp mỏ Việt Bắc, mà còn cả Tập đoàn và các Bộ, ban ngành, các nhà khoa học.

Ảnh: Bóc đất đá mở rộng tuyến tầng tại Công trường khai thác, mỏ than Na Dương. ảnh của Bùi Quang Tuynh
Ngược lại thời gian vào năm 2005, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương đi vào vận hành như một vị cứu tinh cho than Na Dương trong những năm đầu thế kỷ XXI này. Tính ra mỗi năm, Mỏ than Na Dương cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Na Dương trên 500.000 tấn than sạch. Với con sô ấy, đủ cho hàng ngàn lao động yên tâm với nghề của mình. Trước những biến động của nền kinh tế, những khó khăn thách thức, các thế hệ cán bộ công nhân của Mỏ luôn ý thức quyết tâm xây dựng một vùng than biên giới mang diện mạo khác. Hôm nay, vùng mỏ Na Dương đã khoác trên mình tấm áo mới, với khu điều hành khang trang, trên công trường được trang bị những thiết bị hiện đại, nhà xưởng quy mô và to lớn hơn…
Chị Nga cho biết: “ Vùng khai thác nằm trong lòng chảo, nhưng là đỉnh gió, gió mùa đông bắc thổi bạt người. Trước đây khai trường nhỏ hẹp, manh mún như chiếc áo vá vụng, nay đã được thiết kế, quy hoạch theo hướng hiện đại hơn trước rất nhiều. Việc cơ giới hóa cũng đã giúp người lao động đỡ vất vả hơn. Khó khăn nhất của cánh lái xe vận tải là đi làm ca ba vào mùa mưa trơn trượt. Trước lái xe Ben la của Liên xô cũ, ngồi trên ca bin nóng đổ mồ hôi, hệ thống lái nặng, rất nhanh mệt và tốn sức. Nay Công ty trang bị ô tô HD của Nhật, cabin có máy điều hòa, hệ thống lái trợ lực, hệ thống phanh an toàn. Anh em cũng đỡ vất vả hơn nhiều và năng suất lao động cũng cao hơn”. Để sản xuất phát triển, Công ty coi trọng việc bồi dưỡng và đào tạo nhân lực. Với quan điểm, đội ngũ người lao động là “tài sản”, là “nguồn vốn cố định” lớn nhất và quý nhất, Công ty luôn tạo mọi điều kiện để người lao động học tập không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề. Hàng trăm lượt người đã được qua đào tạo trong 5 năm qua… Bởi vậy, hiện nay, ở Than Na Dương, người quản lý đã có tầm nhìn xa, đội ngũ công nhân dần trở thành những “trí thức công nhân”. Các bộ phận hoạt động đều tay và có hiệu quả cao. Hơn thế nữa, Công ty đã mạnh dạn đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vừa đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, vừa bảo vệ, hỗ trợ được đội ngũ lao động và bảo vệ môi trường.
Để người lao động yên tâm, gắn bó với Công ty, Công đoàn cùng Ban giám đốc rất chú trọng việc cải thiện điều kiện ăn ở, làm việc; tăng cường các thiết bị bảo hộ lao động, vệ sinh môi trường làm việc cho người lao động, tổ chức khám sức khỏe định kỳ, kịp thời phát hiện và chữa trị bệnh nghề nghiệp cho công nhân. Bằng quỹ phúc lợi, Công đoàn Công ty còn thường xuyên tổ chức cho cán bộ công nhân được đi nghỉ mát, nghỉ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, tổ chức hoạt động văn nghệ thể thao... tạo ra sân chơi lành mạnh cho tất cả mọi người. Chính những điều này đã tạo nên sức mạnh của toàn công ty, không chỉ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hiện nay mà còn có thể làm chủ công nghệ. Về năng lực khai thác khi mỏ than Na Dương tăng sản lượng lên 1,2 triệu tấn than/năm (gấp 2 lần so với công xuất mỏ hiện nay) theo kế hoạch mở rộng giai đoạn hai, khi  Nhà máy Nhiệt điện Na Dương 2 ra đời. Như vậy, một tổ hợp Than - Điện Na Dương sẽ sản xuất hàng tỷ kWh điện mỗi năm, sẽ góp phần ổn định việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân trong vùng đất này. Đây cũng là lời khẳng định một hướng đi đúng như giúp cho Na Dương được tiếp tục đi lên và phát triển bền vững trên vùng đất đầy nắng, gió góp phần vào việc xây dựng và phát triển Ngành Than, đóng góp vào việc giữ vững an ninh chính trị vùng biên cương phía bắc Tổ quốc.


                                                                         Bài của Hùng Hải
                                                                 Ảnh của Bùi Quang Tuynh




 

Số lượt đọc: 4806 - Cập nhật lần cuối: 08:06 | 20/08/2013
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ