Tinh thần Kỷ luật - Đồng tâm đã tạo động lực để chúng tôi vượt qua khó khăn

 Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, nhưng kịp thời đưa ra các giải pháp, đồng thời phát huy sức mạnh đoàn kết, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc đã vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất, duy trì đảm bảo việc làm cho người lao động. Sau đây là cuộc trao đổi của phóng viên Tạp chí Công nghiệp với ông Vũ Đình Lên- Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

  

                                                                           Ông Vũ Đình Lên


 PV: Thưa ông, trước những khó khăn chung do tác động của nền kinh tế, ông cho biết Tcty đã có những giải pháp cụ thể nhằm ổn định sản xuất kinh doanh như thế nào?
Ông Vũ Đình Lên: Đứng trước những khó khăn chung do tác động của nền kinh tế trong nước và thế giới, Tcty chúng tôi còn có khó khăn riêng đó là, trong năm 2011 và 2012, chúng tôi có 02 dự án xi măng mới đầu tư hoàn thành đưa vào hoạt động trong điều kiện thị trường xi măng trong nước cung vượt cầu, chí phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, giá bán giảm…

 

                                                        Ảnh: Một góc của Nhà máy Xi măng Quán Triều

 

Để ổn định sản xuất kinh doanh, ngay từ đầu năm Tcty đã đề ra những giải pháp quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành sản xuất, kinh doanh là: Sản xuất tới đâu tiêu thụ đến đó; Theo dõi, dự báo tình hình thị trường tính toán, cân nhắc thật kỹ các yếu tố nội tại để xây dựng và điều hành kế hoạch sản xuất, kinh doanh; Tổ chức sản xuất một cách hợp lý giữa các đơn vị trong Tcty, tìm giải pháp ổn định sản xuất, cân đối, bố trí đủ việc làm cho lực lượng lao động hiện có; Sử dụng tối đa những sản phẩm dịch vụ trong nội bộ Tcty; Định biên, tổ chức sắp sếp lại bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ hơn từ Tcty xuống các đơn vị; Triển khai và chỉ đạo cương quyết việc thực hiện tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh và đầu tư xây dựng, thực hiện đầu tư có chọn lọc, tập trung các nguồn lực hiện có để khắc phục những khó khăn về tài chính và phát huy hiệu quả vốn đã đầu tư (đặc biệt là các dự án xi măng). Cùng với đó, công tác kỹ thuật, công nghệ trong khai thác than và sản xuất xi măng phải được đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo an toàn lao động, thực hiện tốt các chỉ tiêu công nghệ để hạ giá thành sản xuất.
Trong 9 tháng đầu năm 2012, các chỉ tiêu đều đạt so với kế hoạch Tập đoàn giao. Than nguyên khai đạt 75%, than sạch đạt 70%, than tiêu thụ đạt 69,5%, doanh thu đạt 72,2%. Đối với sản xuất và tiêu thụ xi măng đạt 64,8 % so với kế hoạch năm. Lương bình quân toàn Tcty trong 9 tháng đạt 5,2 triệu đồng/người/tháng.
Tôi cho rằng, cùng với các giải pháp điều hành quyết liệt, chúng tôi có nền tảng vững chắc, với truyền thống đoàn kết nhất trí, cần cù, sáng tạo và tinh thần Kỷ luật - Đồng tâm của người thợ mỏ ngành Than đã tạo động lực để chúng tôi vượt qua những khó khăn, thách thức ổn định sản xuất.
PV: Được biết, 2 sản phẩm chính của Tcty là than và xi măng, tuy nhiên, trong thời gian qua, thị trường tiêu thụ than và xi măng rơi vào tình trạng trầm lắng, Tcty đã có những biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ 2 sản phẩm này, thưa ông?

 

                                 Ảnh: Phòng điều hành trung tâm Của Công ty Cổ phần xi măng La Hiên

 

Ông Vũ Đình Lên: Trước tình hình sản lượng than xuất khẩu giảm, nhu cầu tiêu thụ than và xi măng trong nước cũng giảm sút, bên cạnh đó thị trường bất động sản trầm lắng đã làm ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ than và xi măng. Trước thực tế đó, Tcty đã đưa ra các giải pháp quyết liệt và cụ thể. Đối với việc tiêu thụ than, trong 3 mỏ than (Núi Hồng, Khánh Hoà, Na Dương), do nhu cầu than cho điện và xi măng giảm làm ảnh hưởng đáng kể đến tình tiêu thụ than của Tcty. Vì vậy, để hoàn thành kế hoạch tiêu thụ than mà Tập đoàn giao, Tcty xác định, ngoài những thị trường và khách hàng truyền thống, Tcty thực hiện bán than đến tận các hộ tiêu thụ cuối cùng. Tôi nghĩ đây là giải pháp hữu hiệu nhất vào thời điểm này.
Về tiêu thụ xi măng, Tcty đề ra 3 giải pháp cơ bản đó là: Sản xuất đảm bảo chất lượng ổn định; Giữ vững thị trường truyền thống, xây dựng chiến lược tiêu thụ phù hợp, tăng cường công tác tiếp thị mở rộng thị trường mới và đặc biệt là quản lý chặt chẽ chi phí, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường.

PV: Để tháo gỡ khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, DN cần có cần sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ chế, chính sách, vốn...như thế nào, thưa ông?
Ông Vũ Đình Lên: Để tháo gỡ khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm đặc biệt là xi măng, tôi cho rằng, Nhà nước cần có những chính sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp như: Giảm lãi suất cho vay, đồng thời cơ cấu lại và giãn thời gian trả nợ đối với các khoản vay của các dự án xi măng nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn về tài chính để các nhà máy xi măng duy trì được hoạt động, tạo nguồn vốn trả nợ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ, điều hành thị trường bất động sản để cải thiện nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như cải thiện thị trường tài chính, tiền tệ.

PV: Phát triển bền vững gắn với môi trường và an sinh xã hội là phương châm phát triển của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, vấn đề này đã được Tcty giải quyết như thế nào trong thời gian qua, thưa ông?

Ông Vũ Đình Lên: Thực hiện phương châm của Tập đoàn, trong thời gian qua, các đơn vị trong Tcty đã chú trọng hơn đến việc bảo vệ môi trường như phủ xanh bãi thải, hoàn thổ, hoàn nguyên, trả lại nguyên trạng môi trường tự nhiên như khi chưa có hoạt động khai thác than, cho đến việc xử lý chất thải từ các khai trường cũng được triển khai mạnh mẽ. Tại Công ty Than Núi Hồng đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để hài hòa lợi ích: doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất và khai thác, người dân có đất tái canh tác. Thậm chí, việc hoàn nguyên phải làm sao cho việc tái trồng lúa đạt năng suất từ 200-250kg/ha. Năm 2011, Tcty đưa hệ thống xử lý nước thải khu vực moong khai thác, công suất 1.500 đến 2.000 m3/h, tổng vốn đầu tư gần 4 tỷ đồng, trên diện tích gần 1 ha trong khu vực khai trường của mỏ than Khánh Hoà. Và mới đây, tại mỏ than Na Dương, Tcty đã khởi công xây dựng hệ thống xử lý nước thải, với mục tiêu xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn B- QCVN24:2009/BTNMT trước khi xả thải ra môi trường. Hệ thống xử lý nước thải bao gồm 15 hạng mục, trong đó có các hạng mục đồng bộ như hệ thống như hồ điều hòa, hệ bể trung hòa và bể lắng sơ bộ; 01hệ bể keo tụ và bể lắng lamella; cụm bể lọc cát Mangan… được xây dựng trên diện tích 23.000m2, với tổng mức đầu tổng trên 30 tỷ đồng từ Quỹ Môi trường tập trung của Tập đoàn. Dự kiến dự án hoàn thành và bàn giao vào sử dụng trong quí II/2013.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Sông Thương (thực hiện)
 

Số lượt đọc: 5502 - Cập nhật lần cuối: 03:05 | 14/11/2012
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ