Công ty Than Núi Hồng: Hơn 3 thập kỷ xây dựng và phát triển
 Quả đúng như người ta vẫn nói “đất có tuần, người có vận”! Vùng mỏ than Núi Hồng đã có lịch sử phát triển từ đầu thế kỷ XX, chính xác là vào năm 1920, người Pháp đã lập bản đồ địa chất và thăm dò tài nguyên than tại Thấu kính 3. Vậy mà sau bao nhiêu biến cố thăng trầm, mãi đến ngày 01/8/1980, Mỏ Than Núi Hồng (TNH mới chính thức được thành lập theo Quyết định số 49/ĐT- TCCB ngày 20/7/1980 của Bộ trưởng Bộ Điện Than. Đến nay, đã ba mươi mốt năm - hơn mười một ngàn ngày, có biết bao mồ hôi, công sức, trí tuệ của các thế hệ cán bộ, công nhân viên, lao động (CBNV- LĐ) đã và đang chung sức dựng xây TNH ngày càng lớn mạnh và bền vững?!
 
 
Ảnh: Băng tải than
 
 
Vạn sự khởi đầu nan
Ra đời vào thời điểm nền kinh tế khó khăn nhất, ban đầu Than Núi Hồng đi vào hoạt động với cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật ban đầu còn rất thô sơ, quy mô khai thác nhỏ với công nghệ thủ công bán cơ giới, cùng lực lượng lao động chỉ có 370 người (trong đó có 7 người có trình độ đại học, 29 người có trình độ trung cấp). Sau một thời gian, Than Núi Hồng đã nhanh chóng ổn định và bước vào thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cải tạo mở rộng Mỏ. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng, TNH đã có nhiều sáng tạo trong lao động, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật của người lao động được áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao.  Tiêu biểu là sáng kiến sử dụng máy xúc gầu quăng UB 1212 để khai thác than xuống sâu phù hợp với đặc điểm địa chất của mỏ, sáng kiến này đã khắc phục được nhược điểm của máy xúc gầu thuận và gầu nhóp trong việc đào hố bơm, thi công hào dốc và điều chỉnh độ nghiêng sườn tầng trong điều kiện địa chất phức tạp, nền đất đá và than mềm yếu, mức độ ngậm nước cao. Với đôi bàn tay và trí óc của đội ngũ cán bộ, người thợ mỏ mà liên tục trong những năm của thập kỷ 80 đó, TNH luôn hoàn thành kế hoạch và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác được giao, sản lượng than nguyên khai đạt 999,3 nghìn tấn; bóc đất đá đạt 1,79 triệu m3… 
Xây dựng nền tảng vững chắc
Bước sang thời kỳ đổi mới (1991 - 2000), TNH coi đây là những năm bản lề trong quá trình phát triển. Được Công ty Than Nội Địa (nay là Tổng công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc - Vinacomin) tiếp tục đầu tư cải tạo và xây dựng, triển khai nhiều dự án đền bù giải phóng mặt bằng, mở rộng Mỏ tại khu II, III, IV,V - Thấu kính 2. Mặt khác, TNH được  tăng cường đầu tư thiết bị như xe ô tô, máy xúc, máy gạt đủ năng lực để tổ chức sản xuất đạt được năng suất cao. Tuy nhiên, giai đoạn này rất nhiều khó khăn, đó là do đền bù giải phóng mặt bằng, nên Mỏ tiếp nhận thêm nhiều lao động địa phương, điều này đồng nghĩa với việc dôi dư lao động, ảnh hướng đến đời sống của người thợ mỏ. Bên cạnh đó, nạn khai thác than trái phép diễn ra nghiêm trọng trong những năm 1998 - 2000. Trong khó khăn, không bao giờ chịu lùi bước mà tự tìm cho mình một hướng đi mới, đó là bản lĩnh kiên cường của người thợ mỏ, TNH đã có một hướng đi riêng cho mình từ những ngày tháng gian nan đó. Giai đoạn này, TNH đã khai thác được 2,0 triệu tấn than nguyên khai, bóc 2,94 triệu m3 đất đá; tiêu thụ 1,9 triệu tấn than. Có thể nói, giai đoạn này thật sự là tiền đề để đội ngũ lãnh đạo, cán bộ quản lý và người lao động của đơn vị rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, tạo đà cho TNH tiếp tục tăng tốc và phát triển sau này.
 
 
 
Ảnh: Khai thác than  tại thấu kính 1A
 
Sáng tạo trong sản xuất
Với suy nghĩ: muốn phát triển phải bắt đầu bằng bàn tay và trí óc của của mình, từ những năm 1999, Ban Lãnh đạo TNH đã thống nhất, chủ động đưa 01 dây chuyền thiết bị và gần 100 công nhân kỹ thuật lên tham gia bóc đất tại Xí nghiệp Than Na Dương (nay là Công ty Than Na Dương) và cũng tại thời điểm này, đơn vị mạnh dạn tiếp nhận Đội Gạch Bắc Hải từ Xí nghiệp Xây dựng dân dụng và công nghiệp Bắc Thái đã giải thể, sáp nhập lại để tiếp tục duy trì sản xuất vật liệu xây dựng, đảm bảo thu nhập cho hơn 40 lao động. Trong thời gian này, đã có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, các giải pháp kinh tế đã được áp dụng vào sản xuất và đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành. Cùng với các giải pháp, TNH đã có gần 800 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp kinh tế được áp dụng vào sản xuất, với tổng giá trị làm lợi trên gần 4 tỷ đồng. Bắt đầu là việc tiếp nhận, quản lý và đưa vào khai thác tuyến đường sắt Quan Triều - Núi Hồng với tổng chiều dài 35 km, nhằm tiết kiệm thời gian quay đầu máy của tàu, các cán bộ kỹ thuật của Xí nghiệp đã có ý tưởng là chế tạo mâm quay cho đầu máy toa xe lửa. Ý tưởng này do Kỹ sư  Đỗ Huy Hùng Trưởng phòng Cơ Điện lúc đó chịu trách nhiệm thực hiện, đề tài thành công góp phân nâng cao năng lực vận tải than và tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó là các sáng kiến: Bù Cosφ mạng điện toàn TNH, giá trị làm lợi 84 triệu đồng/năm; Sáng kiến cải tiến khoan CBP- 160A từ chế độ khoan xoay sang chế độ khoan xoay đập phù hợp với kết cấu địa chất của khai trường mỏ; Lắp đặt hệ thống bơm thoát nước 135 kW công suất lớn để thoát nước moong; Chế tạo và lắp đặt mới 2 hệ thống máy sàng tuyển than có công suất 150 tấn/ca thay thế cho phương pháp sàng thủ công trước đây; Hoán cải đầu máy DIEZEL CAT 3406 thay thế cho đầu máy DIEZEL D12 - 400 đã cũ không phát huy được công suất lắp kéo trên đầu tàu TY 7E); … Hay như đề tài “Lắp ống van một chiều trên đầu búa khoan máy khoan CBP -160 và máy khoan CBY -100” của nhóm kỹ sư thuộc Phân xưởng Cơ điện tiến hành triển khai. Sau khi cải tiến, máy khoan không bị nước ngầm lọt vào trong khi hoạt động. Đồng thời, việc lắp đặt này đã góp phần làm tăng tuổi thọ, cũng như độ bền của máy...  
Đặc biệt, năm vào cuối năm 2004 và đầu năm 2005, TNH thực hiện ý tưởng: Thiết kế băng tải cấp than dài 2,7km có tổng vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích khoảng 14,7ha, chạy qua các địa phương: xã Phúc Hà, phường Quan Triều, phường Tân Long (thành phố Thái Nguyên) để cung cấp đủ than cho Nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn hoạt đông với công suất đạt trên 550 nghìn tấn/năm. Ở thời điểm này, đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật của TNH đã tham gia tích cực vào nhiệm vụ giám sát thi công và trực tiếp thi công một số hạng mục của công trình tuyến băng tải. Đây là công trình đánh dấu sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật của TNH trong việc nhận và tổ chức quản lý, thi công công trình có vốn đầu tư lớn, các tiêu chuẩn kỹ thuật phức tạp, thời gian thi công ngắn.
Đến ý tưởng đa ngành nghề
Xuất phát từ cam kết tiếp nhận nhiều lao động địa phương đã dành đất cho doanh nghiệp khai thác, nên từ năm 2004, TNH đầu tư xây dựng một Phân xưởng Sản xuất gạch công suất 7 triệu viên/năm ngay tại khai trường Thấu kính 2 để giải quyết việc làm cho người lao động và tận dụng nguồn tài nguyên đất trong quá trình mở vỉa. Tiếp đến, năm 2007 - 2008, TNH đầu tư xây dựng 3 lò nung gạch liên tục kiểu đứng với công suất thiết kế 5 triệu viên/năm. Với dây chuyền sản xuất này, TNH đã tạo việc làm cho hơn 130 lao động thủ công của Mỏ, thu nhập đạt trên 2,9 triệu đồng/người/tháng. Cùng với việc mở rộng qui mô sản xuất, đa dạng hóa ngành nghề, TNH còn đưa công nhân kỹ thuật đi làm việc cho các  mỏ than Khánh Hòa và Na Dương (Lạng Sơn). Năm  2010, TNH đã mở rộng thêm Phân xưởng Khai thác đá Tràng Đà (Tuyên Quang) phục vụ cho Nhà máy Xi măng Tân Quang, sản lượng đạt 1 triệu tấn/năm và góp phần giải quyết thêm việc làm cho khoảng 200 lao động. 
Không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ sản xuất, chế biến kinh doanh than và vật liệu xây dựng, từ cuối năm 2004, TNH còn mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực nhà hàng, khách sạn. Với sự đầu tư mới này, TNH đã đảm nhận thêm nhiệm vụ điều dưỡng phục hồi chức năng cho CBCNV ngành Than, tổ chức hội nghị, hội thảo… Bao nhiêu việc là bấy nhiêu lo toan! Nhưng với những thế hệ cán bộ lãnh đạo dám nghĩ, dám làm, quyết đoán và năng động, cùng với một đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề, 31 năm qua TNH từng bước vượt qua nhiều khó khăn, vững vàng hơn, bản lĩnh hơn trong nền kinh tế thị trường. Và đến hôm nay, TNH đã đổi thay mà ngay cả chính người trong cuộc cũng không khỏi ngỡ ngàng. 31 năm xây dựng và phát triển, với bao khó khăn, thử thách, nhưng vẫn không ngăn được ý chí vươn lên của CBCN-LĐ của TNH. Từ một đội ngũ non trẻ, TNH đã từng bước vươn lên nắm vững và làm chủ công nghệ trong khai thác, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật; xây dựng và hoàn chỉnh các quy trình quản lý vận hành máy móc, thiết bị; quy trình quản lý chất lượng...  tự tin và vững bước đưa doanh nghiệp trở thành điểm sáng của vùng đất Chiến khu.
Thay cho lời kết
Đúng là công nghiệp về đến đâu thì đất nơi ấy khởi sắc! Hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty đã tạo điều kiện cho hàng nghìn lao động, nhân dân trong vùng có thêm việc làm; nhịp sống xã hội không ngừng tăng lên; diện mạo kinh tế - xã hội của một vùng quê được đổi thay từng ngày, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao, trình độ dân trí ngày càng phát triển. 
Với những đóng góp và thành tích đặc biệt xuất sắc đó, tập thể CBCNV TNH đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Độc lập hạng Nhì, Ba; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều phần thưởng khác cho các tập thể, cá nhân.
 Nhìn lại chặng đường 1/3 thế kỷ qua, các thế hệ của TNH luôn tự hào với những thành tích đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển, góp phần quan trọng vào sự lớn mạnh của ngành Than Việt Nam và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên.
Lê Hằng
Số lượt đọc: 5583 - Cập nhật lần cuối: 02:03 | 25/10/2011
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ