Than Na Dương thay đổi diện mạo một vùng đất nơi biên cương

 Than Na Dương thay đổi diện mạo một vùng đất nơi biên cương 

 
Trong quá trình xây dựng và phát triển của một doanh nghiệp không tránh khỏi những biến động thăng trầm, có giai đoạn được coi là hoàng kim nhất, nhưng cũng có lúc lại đứng chênh vênh bên bờ vực thẳm. Công ty TNHH MTV Than Na Dương (Than Na Dương) đã có những thời điểm nhạy cảm như vậy. Nếu thập niên 80 là thời gian hoàng kim nhất đối với Than Na Dương, thì đến những năm 90 của thế kỷ XX lại là thời kỳ bĩ cực, nhưng đến nay, dường như Than Na Dương đã tìm được về thời hoàng kim của mình.
Được nghe nhiều về vùng mỏ Na Dương, nhưng lại chưa một lần được đặt chân đến vùng đất vàng đen có trữ lượng lớn tới 99 triệu tấn than đó. Để được “mục sở thị”, thoả chí “hiếu kỳ”, lần này, tôi quyết bằng được theo một người bạn lên đất Mỏ. Vượt quãng đường dài trên 200 km, sau 4 tiếng đồng hồ ngồi trên xe ô tô, tôi đã có mặt ở Mỏ Than Na Dương. Rất may, hôm đó có lất phất mưa, nên lối vào Than Na Dương có phần dễ dàng và đỡ bụi hơn.
 
Được bao quanh bằng các dải đồi, vùng mỏ than Na Dương như một nàng công chúa nằm ẩn mình bên dòng sông Kỳ Cùng và suối Toòng Già - là suối chính trong vùng, bắt nguồn chảy từ vùng núi phía Đông khu mỏ, qua các vỉa than và đổ ra sông Kỳ Cùng. 
Trước khi ra khai trường, tôi mới biết đi thăm vùng mỏ vào mùa này thì thật sai lầm, vì nơi đây bắt đầu vào mùa mưa, mưa nhỏ thôi cũng đủ để các công nhân phải nghỉ việc và tính ra thời gian nghỉ vì mưa đã hết gần một quý trong năm. Phải chăng, đó là một trong những khó khăn trong khai thác của mỏ mà Than Na Dương thường xuyên gặp phải?
Lên đến khai trường chính của Mỏ, tôi không khỏi ngạc nhiên bởi giữa vùng đồi núi giáp biên này có vỉa than lớn đến như vậy. Chưa hết ngạc nhiên thì đồng chí Phó Giám đốc Lý Hùng Chiến đi cùng cho biết thêm, Than Na Dương có nhiều nét đặc biệt lắm, không như mỏ than Núi Hồng (Thái Nguyên), hay ở các mỏ than Quảng Ninh trong hệ thống của TKV. Đất đá trong khu mỏ gồm trầm tích hệ Trias Thống Thượng, trầm tích chứa than Neogen và lớp phủ Đệ Tứ. Tầng chứa than trên chạy dài từ phía Đông – đông Bắc đến phía Tây Nam. Theo hướng tay của Phó Giám đôc Chiến, tôi thấy một bên khai trường là vách thoai thoải dốc đến 200- 250. Bên vách đứng đó chính là bên trụ của vỉa than, nên tuyệt đối không được khai thác về phía đó. Mặc dù ở Mỏ Than Na Dương cũng là khai thác lộ thiên, nhưng so với mực nước biển hiện nay, than Na Dương đang khai thác có độ sâu gần 250m. Than Na Dương là loại than đặc chủng, ít có ở Việt Nam, là loại than nâu chuyển tiếp than ngọn lửa dài. Gọi là than đặc chủng, bởi vì nó có hàm lượng lưu huỳnh cao, dễ phong hoá, dễ bốc cháy và là loại than rất khó tuyển do than và đất đá ở dạng kết hạch rất chặt chẽ. 
 
 
 
Việc khai thác đã khó, nhưng việc sàng tuyển và lưu kho còn khó  hơn rất nhiều. Trước đây, than được khai thác lên chưa dùng đến chỉ cần để lại có thể trong đêm đã bốc cháy mà đã cháy tự nhiên thì lưu huỳnh chưa được khử, nên bay ra mùi rất khó chịu. Thêm vào đó, khi gặp nước sẽ chuyển hoá thành axit sunfuaríc, loại axít này nếu thải ra môi trường sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường  xung quanh. Đó là chuyện trước đây, còn bây giờ, việc xử lý các sự cố than cháy hay nước thải ra sông Kỳ Cùng ở Na Dương đã được đảm bảo an toàn.
Tiêu thụ than Na Dương cũng gặp khó khăn rất nhiều, bởi do đặc thù là loại than ngọn lửa dài, nên chỉ dùng được trong công nghệ xi măng lò quay phương pháp ướt và cho các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tần sôi tuần hoàn. Từ thập kỷ tám mươi, nước ta thực hiện nhiều công trình trọng điểm, theo đó, hàng loạt nhà máy xi măng được đầu tư xây dựng, trong đó có Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn công suất 1,2 triệu tấn/năm, công nghệ ướt của Liên Xô, nên than Na Dương là nguyên liệu mang lại hiệu quả nhất. Để đáp ứng nhu cầu cho sản xuất xi măng tại Bỉm Sơn, Mỏ than Na Dương vào thời điểm này cũng được xác định là một trong những công trình đầu tư trọng điểm của Nhà nước, nên được các bộ, ngành quan tâm và sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) trong việc thiết kế, lắp đặt sử dụng các thiết bị hiện đại công suất lớn. CBCNV của Mỏ cũng được tăng cường lên đến trên 2 nghìn người. Thời kỳ này được coi là thời hoàng kim nhất của Mỏ Than Na Dương. Tuy nhiên, những năm gần đây, nhằm nâng cao chất lượng công nghệ, các nhà máy xi măng chuyển sang sản xuất theo phương pháp khô, đồng nghĩa với việc dừng tiêu thụ than Na Dương. Đây chính là một trong vấn đề nan giải nhất của Mỏ than Na Dương, làm thế nào để giữ sản xuất ổn định và còn bao nhiêu hệ lụy khác đến con người...
  Năm 2005, Nhà máy Nhiệt điện Na Dương đi vào vận hành như một vị cứu tinh cho than Na Dương trong những năm đầu thế kỷ XXI này. Tính ra mỗi năm, Mỏ Than Na Dương cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Na Dương trên 500.000 tấn than sạch. Cùng với đó là sự nỗ lực trong sản xuất kinh doanh, tập thể CBNV- LĐ  nên đã ghi thêm vào trang sử mới của mình những con số khá ấn tượng: Giai đoạn 2005-2009, đã khai thác đất đá đạt 22.353.770 m3, vượt 39,7%; sản xuất và tiêu thụ than sạch 2.805.363 tấn, vượt 3,9%; doanh thu 1.014,5 tỷ đồng, vượt 66,1%; nộp ngân sách 63,2 tỷ đồng, vượt 89,9%; lợi nhuận 57,4 tỷ đồng, vượt 213,8%, thu nhập bình quân người lao động đạt trên 4.500.000đ/ người/ tháng. Tính riêng 9 tháng đâu năm 2010, than tiêu thụ đạt trên 421 nghìn tấn, doanh thu đạt 253 tỷ đồng, lương bình quân gần 5 triệu đồng/người/tháng. 
Trước những biến động của nền kinh tế, những khó khăn thách thức, các thế hệ cán bộ CNVC của Mỏ luôn ý thức quyết tâm xây dựng một vùng mỏ mang diện mạo mới. Và hôm nay, vùng mỏ Na Dương đã khoác trên mình tấm áo mới, với khu điều hành khang trang, xanh - sạch - đẹp, trên công trường được trang bị những thiết bi hiện đại, nhà xưởng quy củ hơn… 
 Được biết, Dự án mở rộng Mỏ than Na Dương nằm trong tổng thể của Dự án Than - Điện, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành Than nói chung và Mỏ than Na Dương nói riêng. Tương lai không xa, một Dây truyền 2 Nhiệt điện Na Dương được khởi công xây dựng và đi vào vận hành. Như vậy, một Tổ hợp Than - Điện Na Dương sẽ sản xuất hàng tỷ kWh điện mỗi năm, sẽ góp phần ổn định việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân các dân tộc trên vùng đất biên cương của Tổ quốc. 
Than Na Dương đã khoác lên mình một chiếc áo mới làm thay đổi diện mạo một vùng đất biên cương của Tổ Quốc.
 
 
Diệu Huyền
 
 
Số lượt đọc: 7551 - Cập nhật lần cuối: 01:04 | 15/03/2011
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ