Than Na Dương – 60 năm gian nan, vinh quang và thử thách

(TN&MT)- Dù ở giai đoạn nào, hoàn cảnh lịch sử nào, CBNV-LĐ Than Na Dương đều vượt qua những khó khăn, thách thức khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, quốc phòng của tỉnh Lạng Sơn và sự phát triển của ngành Than – Khoáng sản Việt Nam.

 
 
 
Than Na Dương – Than nâu đặc biệt
Than Na Dương là loại than nâu chuyển tiếp than ngọn lửa dài. Là than đặc chủng ít có ở Việt Nam, với những đặc tính kỹ thuật: Hàm lượng lưu huỳnh cao, dễ phong hóa, dễ bốc cháy khi đổ đống lớn và gặp mưa nhỏ khí sunphua phát ra gây độc hại và ô nhiễm môi trường. Than Na Dương có hàm lượng tro cao, cấp hạt càng nhỏ độ tro càng cao. Tỷ lệ cám trong than nguyên khai tương đối lớn. Than và đất đá ở dạng kết hạch rất chặt chẽ, thuộc loại than rất khó tuyển.
Đất đá trong khu mỏ than Na Dương bao gồm trầm tích hệ Trias Thống Thượng trầm tích chứa than Neogen và lớp phủ Đệ Tứ. Trầm tích chứa than Neogen nằm không chỉnh hợp trên các trầm tích cổ hơn và được chia thành 3 tầng: tầng chứa than dưới, tầng chứa than trên và tầng trên than.
Kiến tạo khu mỏ có cấu tạo chung là một nếp lõm lòng chảo không đối xứng. Trục nếp lõm có phương gần Đông - Tây; độ dốc các cánh thường từ 180 - 240, ở phía Tây các lớp đá dốc hơn, từ 280 - 320. Các vỉa than thường có dạng đơn tà, chúng hay bị uốn cong theo hướng dốc, đôi chỗ bị uốn tạo thành các nếp uốn nhỏ. Đi dần vào trung tâm, các vỉa than giảm dần chiều dày và vát nhọn trước khi đến trung tâm lòng chảo.
Với những đặc tính như vậy, Than Na Dương chủ yếu dùng cho công nghệ xi măng lò quay phương pháp ướt và nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn.
Trang sử vẻ vang
Ngày 21/3/1959, Mỏ than Na Dương được thành lập theo Quyết định số 104/BCN/KH4 ngày 10 tháng 01 năm 1959 của Bộ Công nghiệp. Với nhiệm vụ chính là cung cấp than cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, phục vụ công cuộc tái thiết đất nước. 
Mỗi chặng đường lịch sử, Than Na Dương đều ghi những dấu ấn cho riêng mình. Tự hào với truyền thống của mình, các thế hệ CBCNV Than Na Dương không quên một thời khó khăn gian khổ, những năm tháng dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, người thợ mỏ với tay chòong, tay súng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, người thợ mỏ Na Dương một lần nữa khẳng định tinh thần dân tộc quả cảm, chiến đấu bảo vệ từng tấc đất nơi biên cương Tổ quốc và trong những cuộc chiến đấu đó có những người thợ mỏ ra đi mãi mãi không về.
Còn nhớ, những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, thời kỳ hoàng kim của  Mỏ than Na Dương, bởi lúc này mỏ than Na Dương đã được xác định là một trong những công trình đầu tư trọng điểm của Nhà nước, được các bộ, ngành quan tâm và đặc biệt là các chuyên gia Liên Xô (cũ) đã giúp đỡ thiết kế, lắp đặt sử dụng các thiết bị hiện đại công suất lớn  nhằm đáp ứng nhu cầu than ngày một tăng phục vụ công cuộc tái thiết đất nước.
 Rồi đến khi Nhà máy Xi măng Hải phòng và năm 1993 nhà máy xi măng Bỉm Sơn được Chính phủ cho phép đầu tư chuyển đổi công nghệ sản xuất xi măng từ công nghệ ướt sang công nghệ khô nên sau khi đầu tư đổi mới xong công nghệ sẽ không còn dùng than Na Dương nữa. Giai đoạn này Than Na Dương chông chênh bên vực thẳm của giải thể, đối mặt muôn vàn khó khăn trước nguy cơ phải đóng cửa. 
Nhằm tháo gỡ khó khăn cho mỏ than Na Dương, Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Na Dương đã được Chính Phủ phê duyệt ngày 3-12-1998, với tổng mức đầu tư của dự án hơn 124 triệu USD và giao cho Tổng Công ty Than Việt Nam làm chủ đầu tư. Nhà máy gồm 2 tổ máy, công suất phát điện 100 MW. Sau gần 3 năm xây dựng, nhà máy Nhiệt điện Na Dương được khánh thành và chạy thử, ngày 02 tháng 11 năm 2005 Công ty Nhiệt điện Na Dương chính thức phát điện thương phẩm lên lưới điện quốc gia.
 
Box:. Trong 60 năm xây dựng và phát triển, Công ty than Na Dương đã bốc xúc, vận chuyển 93,5 triệu mét khối đất đá, khai thác trên 12,7 triệu tấn than NK, tiêu thụ hơn 10,6 triệu tấn than sạch cung cấp cho Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà máy xi măng Bỉm Sơn và Nhà máy Nhiệt điện Na Dương. Hơn 12,7 triệu tấn than đó đã tham gia sản xuất hàng chục triệu tấn xi măng và hàng Tỷ Kw/h điện góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước trước đây và sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay.
 
 
Viết tiếp trang sử vẻ vang
Thực hiện “Đề án tái cơ cấu Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2012 - 2015” theo Quyết định số 314/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng chính phủ. Hội đồng thành viên Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã ban hành Quyết định số 388/QĐ-TKV ngày 05/3/2014 và Quyết định số 401/QĐ-TKV về việc phê duyệt đề án Tái cơ cấu và Cổ phần hóa Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc – Vinacomin, theo đó tháng 4/2014, Công ty TNHHMTV than  Than Na Dương được sáp nhập vào Công ty Mẹ và trở thành Chi nhánh của Tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc.
Cùng với việc thay đổi mô hình tổ chức và trên cơ sở hiệu quả đầu tư đã đạt được của tổ hợp than điện Na Dương I, lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam, lãnh đạo Tổng công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc đã tin tưởng và tiếp tục giao nhiệm vụ cho Công ty Than Na Dương cùng Viện KHCN mỏ phối hợp với Trường đại học tổng hợp Craccốp - Cộng hòa Ba Lan nghiên cứu, đánh giá và thực hiện các giải pháp để đảm bảo ổn định bờ trụ Nam của mỏ đồng thời đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, triển khai đền bù GPMB, di chuyển xưởng sàng chuẩn bị mặt bằng cho nhà máy Nhiệt điện Na Dương II đồng thời thực hiện dự án Đầu tư mở rộng nâng công suất mỏ từ 600.000 tấn/năm lên 1,2 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư trên 777 tỷ đồng với mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ than cho nhà máy Nhiệt điện Na Dương I và Na Dương II trong giai đoạn tới.
Từ thành công của dự án Than – Điện Na Dương và để nâng cao sản lượng điện góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và sự nghiệp phát triển Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã quyết định đầu tư dự án XD nhà máy nhiệt điện Na Dương 2 và Đầu tư dự án mở rộng nâng công suất mỏ Na Dương lên 1.2 triệu tấn than/năm. 
Để thực hiện Chiến lược phát triển sản xuất công ty giai đoạn 2019-2025 và tầm nhìn đến năm 2030, Công ty than Na Dương thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như:
Tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ tiên tiến nâng cao hiệu quả SXKD, gắn liền với công tác đảm bảo ATVSLĐ và  bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác than, đáp ứng đủ nguồn than cho nhà máy  điện Na Dương I, ND II hoạt động. 
Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án bồi thường GPMB mở rộng khai trường sản xuất và bãi đổ thải; Đầu tư đổi mới, đồng bộ hóa các thiết bị hiện đại có công suất lớn phù hợp; Tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu sắp xếp lực lượng lao động phù hợp với mô hình quản trị mới, đảm bảo tinh giản gọn nhẹ nhằm mục tiêu tăng năng suất lao động và nâng cao thu nhập cho người lao động.... 
 Tiếp tục đầu tư hoàn thiện các công trình phúc lợi, chăm lo cải thiện điều kiện làm việc và sinh hoạt nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ CNLĐ và nhân dân trên địa bàn.
Trong tương lai không xa, trên vùng đất biên cương của Tổ quốc, Tổ hợp Than – Điện Na Dương hàng năm sẽ sản xuất cho Tổ quốc hàng tỷ Kw/h điện, tạo ra hàng ngàn việc làm, là hạt nhân của Khu Công nghiệp Na Dương. Tổ hợp Than – Điện Na Dương là một dấu ấn thành công, là thành quả của sự quyết tâm dám nghĩ dám làm của những người thợ mỏ, của lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cũng là thành tích đáng tự hào của các thế hệ cán bộ CNLĐ Công ty than Na Dương. 
Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Ba, Huân chương Lao động, Huân chương Chiến công, Huân chương bảo vệ Tổ quốc và nhiều phần thưởng cao quý khác là minh chứng cho một trang sử hào hùng, với bản lĩnh, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công nhân Than Na Dương anh dũng trong chiến đấu, cần cù, sáng tạo trong lao động. 
 
60 năm qua  với biết bao thăng trầm lịch sử người thợ mỏ Na Dương  vẫn luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc và hơn hết đó là sự ủng hộ, đồng thuận của chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn, tin rằng, Than Na Dương từng bước vượt qua khó khăn, viết tiếp trang sử vẻ vang góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội Lạng Sơn nói chung và ngành Than nói riêng.
Hằng Thương
 
 

 

Số lượt đọc: 503 - Cập nhật lần cuối: 13:45 | 21/03/2019
Về trang trước Bản in Gửi mail Trang chủ